TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2022/HS-ST
Ngày 20-12-2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Lý.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Duy Long
- Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Huy Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Bùi Công Q, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1979 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 07/12; con ông: Bùi Công L và bà Bùi Thị X (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị N và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Quyết định số 209/ QĐ - XPVPHC ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Công an huyện V xử phạt Bùi Công Q 1.000.000đồng về hành vi đánh bạc. Đã nộp xong tiền phạt ngày 25 tháng 4 năm 2005.
- Quyết định số 314/ QĐ - XPVPHC ngày 06 tháng 9 năm 2012 của Công an huyện V xử phạt Bùi Công Q 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc. Đã nộp xong tiền phạt ngày 07 tháng 9 năm 2012.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16 tháng 8 năm 2022 đến ngày 19 tháng 8 năm 2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình (Có mặt)
* Người chứng kiến:
- Ông Đỗ Đức T, sinh năm 1955
- Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình;
- Anh Mai Văn T, sinh năm 1977
- Địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình;
(Ông Thể, anh Thức vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 00 ngày 16 tháng 8 năm 2022, Bùi Công Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 14F6 - xxxx từ nhà lên khu vực đường Bệnh viện Lao phổi tỉnh Thái Bình thuộc xã V, thành phố Thái Bình gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 100.000 đồng được 01 gói ma túy, loại Heroine được gói bên ngoài bằng giấy tráng kim màu trắng để sử dụng cho bản thân. Q cất giấu gói Heroine vào túi áo ngực bên trái phía trước đang mặc rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Đến 7 giờ 30 phút cùng ngày, Q đi trên trục đường thôn H, xã V, huyện V thì bị tổ công tác Công an huyện V yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Đỗ Đức T và anh Mai Văn T, tổ công tác kiểm tra người Q, thu giữ tại túi áo ngực bên trái phía trước Q đang mặc 01 gói nhỏ, Q khai nhận là Heroine vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác mở gói này ra kiểm tra thấy bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng sau đó niêm phong trong phong bì theo quy định; kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 14F6 - 2630 do Q điều khiển không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã yêu cầu Q đưa xe mô tô và mời những người chứng kiến đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Công Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Kết luận giám định số 317/KL - KTHS(MT) ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định quản lý của Bùi Công Q là ma túy, loại Heroine; khối lượng 0,1501 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm linh một gam).
Cáo trạng số 88/CT-VKSVT ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố bị cáo Bùi Công Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; tuyên bố: Bị cáo Bùi Công Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Bùi Công Q mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,1029 gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 317/KL-KTHS (MT) ngày 17 tháng 8 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 14F6 - 2630, màu nâu, đã cũ đã qua sử dụng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Các chứng cứ buộc tội bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V; Bản Kết luận giám định số 317/KL - KTHS (MT) ngày 17 tháng 8 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Biên bản ghi lời khai của ông Đỗ Đức T và anh Mai Văn T.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại đoạn đường thuộc địa phận thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang Bùi Công Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,1501 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm linh một gam) tại túi áo ngực bên trái phía trước Q đang mặc, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của Bùi Công Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự .
“Điều 249 . Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1501 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm linh một gam) tại túi áo ngực bên trái phía trước, mục đích để sử dụng cho bản thân của Bùi Công Q là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn ma tuý đang là hiểm họa của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Những năm qua, tệ nạn ma tuý ở Việt Nam vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại ma tuý mới. Ma túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh
hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước. Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ dẫn đến mất khả năng lao động, suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia.
Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật.
[4] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Q có nhân thân xấu. Năm 2005 và năm 2012, Q đã từng bị Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng, cải sửa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:
Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét thấy, bị cáo Q tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi. Bị cáo lao động tự do, không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và tài sản:
[6.1] Đối với số ma túy, loại Heronine giám định hoàn lại còn lại 0,1029 gam niêm phong trong phong bì 317/KL- KTHS(MT) ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu để tiêu huỷ.
[6.2] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 14F6-xxxx, Q khai mua của một người không quen biết ở tỉnh Quảng Ninh, có giao nhận Đăng ký xe nhưng không có giấy tờ mua bán, chưa làm thủ tục sang tên, sử dụng đi lại sinh hoạt hàng ngày. Cơ quan điều tra xác định anh Phạm Đình T, sinh năm 1971. Địa chỉ: tổ x, khu x, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là người đăng ký làm chủ chiếc xe mô tô trên. Năm 2021, anh T bán lại cho 01 người chỉ biết là ở V, Thái Bình với giá 06 triệu đồng, khi bán không có giấy tờ, chỉ giao đăng ký xe. Lời khai của anh T phù hợp với lời khai của Q nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự tuyên trả lại cho bị cáo.
[7] Về những vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Công Q, do Q khai không quen biết, không có thông tin về họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Công Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt Bùi Công Q 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2022.
- Về xử lý vật chứng và tài sản:
Tịch thu tiêu hủy: 0,1029 gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 317/KL- KTHS(MT) ngày 16 tháng 8 năm 2022 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
Trả lại cho bị cáo Bùi Công Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 14F6-xxxx màu nâu, đã qua sử dụng
(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo Phiếu nhập kho vật chứng ngày 29 tháng 11 năm 2022).
- Về án phí: Bị cáo Bùi Công Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Công Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20 tháng 12 năm 2022).
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |
Bản án số 82/2022/HS-ST ngày 20/12/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 82/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Công Q phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy đình tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
