Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 818 /2024/HNGĐ - ST

Ngày: 26 tháng 11 năm 2024

V/v: Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
  2. Bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 708/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Căn hộ C, CT2 tòa T, phường L, quận H, Thành Phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Thanh G, sinh năm 1994.

Đăng ký HKTT: Căn hộ 3026, CT2 toà T, phường L, quận H, Thành Phố Hà Nội.

Hiện đang chấp hành án tại: Trại tạm giam số 2, V, huyện T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị Thu H trình bày: Chị và anh Phạm Thanh G chung sống với nhau từ năm 2023 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận H, thành phố Hà Nội ngày 12/01/2023. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau và do hiện nay anh G đang phải chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam số 2 V, huyện T, thành phố Hà Nội nên tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh G.

Về con chung: Chị H xác nhận vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị H xác nhận vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Chị H xác nhận vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị H đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

*Tại bản tự khai ngày 11/11/2024 bị đơn anh Phạm Thanh G trình bày: Anh và chị H chung sống với nhau từ ngày 12/10/2023. Việc chung sống hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận H, thành phố Hà Nội ngày 12/01/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại: P, tòa T, phường L, quận H, Thành Phố Hà Nội. Quá trình chung sống không phát sinh mâu thuẫn, nhưng đến nay tình cảm vợ chồng không còn vì anh G đang bị tạm giam tại trại giam S Công an thành phố H. Nay chị H nộp đơn xin ly hôn anh thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh G xác nhận anh và chị H chưa có con chung.

Về tài sản chung: Anh G xác nhận không yêu cầu giải quyết.

Về công nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Do anh G đang tạm giam tại trại giam S Công an thành phố H nên anh G không đến Toà án để tham gia tố tụng giải quyết vụ án được. Đề nghị Toà án cho anh được vắng mặt tại tất cả các giai đoạn tố tụng giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay:

Chị H vẫn giữ nguyên các yêu cầu nêu trên và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án ngày hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh G. Về con chung: Chị H, anh G xác nhận vợ chồng chưa có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét; Về tài sản chung, công nợ: Chị H, anh G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1].Về thủ tục tố tụng: Quá trình Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án triệu tập anh G đến Tòa để giải quyết vụ án, anh G đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và đã có bản tự khai thể hiện ý kiến, quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H, anh G đồng ý ly hôn và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt anh G.

Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn là anh Phạm Thanh G trước khi tạm giam có địa chỉ cư trú tại: Căn hộ C, CT2 tòa T, phường L, quận H, Thành Phố Hà Nội. Nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2].Về nội dung:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thu H và anh Phạm Thanh G chung sống với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường L, quận H chứng nhận kết hôn ngày 12/01/2023. Hôn nhân của chị H, anh G là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “ vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”. Quá trình giải quyết vụ án cả chị H và anh G đều xác nhận vợ chồng hiện nay không chung sống cùng nhau do anh G đang phải chấp hành án tại trại giam S Công an thành phố H và đều xác nhận vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Nay chị H xin ly hôn anh G thì anh G cũng đồng ý ly hôn.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H với anh G đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh G là có căn cứ chấp nhận và phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2]. Về con chung: Chị H và anh G đều xác nhận vợ chồng chưa có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Chị H, anh G xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về công nợ: Chị H, anh G xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu và đề xuất hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Từ nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Luật số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014.

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; các Điều 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thu H đối với anh Phạm Thanh G
  2. Chị Lê Thị Thu H được ly hôn anh Phạm Thanh G.

  3. Về con chung: Chị Lê Thị Thu H và anh Phạm Thanh G xác nhận chưa có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Chị H, anh G xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về công nợ: Chị H, anh G xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0044312 ngày 18/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị H, vắng mặt anh G. Chị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh G được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hạnh Lê Thị Huyền Nguyễn Thanh T

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THA quận Hà Đông;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường La Khê, quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 818/2024/HNGĐ - ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 818/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thu H ly hôn anh Phạm Thanh G
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger