Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 818/2024/HNGĐ-ST

Ngày 11/9/2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

- Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Xây.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cờ.

Ông Nguyễn Hải Phùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hà - Thư ký tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Diệu L - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 561 ngày 03/7/2024 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 242 ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim T, sinh năm 1984; Đăng ký hộ khẩu thường trú: P301 nhà A tập thể B, phường L, quận Đ, TP Hà Nội.

Bị đơn: Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1982; Đăng ký hộ khẩu thường trú: P301 nhà A tập thể B, phường L, quận Đ, TP Hà Nội.

Tại phiên toà: Chị T có mặt, anh Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 14/6/2024, tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo chị Lê Thị Kim T trình bày:

Về hôn nhân: Chị T và anh Đỗ Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Hưng Yên ngày 14 tháng 02 năm 2005.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính cách, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Anh Đ không quan tâm đến gia đình, ảnh hưởng đến cuộc sống chung. Cuộc sống chung không hạnh phúc, anh chị sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay, mỗi người sống một nơi và không có sự quan tâm đến nhau.

Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không thể, xin được ly hôn anh Đ để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị T và anh Đ có 03 con chung là:

  1. Đỗ Quang H, sinh ngày 07/12/2005;
  2. Đỗ Thúy N, sinh ngày 13/7/2008
  3. Đỗ Như Ý, sinh ngày 01/8/2020.

- Chị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và cháu Như Ý, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Cháu H đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung (Động sản và bất động sản): Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Toà án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng dân sự cho anh Đ, song anh Đ vắng mặt. Anh Đ không gửi đến Tòa văn bản trình bày quan điểm về yêu cầu ly hôn của chị T và cũng không giao nộp cho Toà án tài liệu, chứng cứ liên quan.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn: Chị T vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày, xác định tình cảm không còn, thời gian ly thân đã lâu, cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị tha thiết xin được ly hôn với anh Đ. Ngoài ra, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo thẩm quyền và hành vi tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung:

- Giao cháu Đỗ Thúy N, sinh ngày 13/7/2008 và Đỗ Như Ý, sinh ngày 01/8/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

- Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đ cho đến khi có yêu cầu.

- Cháu H đã thành niên nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Toà án không giải quyết, nếu đương sự có yêu cầu và có điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: Bị đơn có địa chỉ tại quận Đ nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án quận Đống Đa theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đ theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng anh Đ vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Kim T và anh Đỗ Văn Đ trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng không hợp tính cách, bất đồng quan điểm sống, ảnh hưởng đến tinh thần của chị và các con chung. Cuộc sống chung không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn rất trầm trọng nên không thể tiếp tục chung sống được nữa, chị tha thiết xin ly hôn để ổn định cuộc sống.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Đ để tiến hành hòa giải và để anh Đ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, anh Đ vắng mặt không có lý do. Việc anh Đ không đến Tòa án, không gửi đến Tòa văn bản thể hiện quan điểm đối với yêu cầu giải quyết ly hôn của chị T, thể hiện anh Đ không tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Tại phiên tòa, chị T vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh Đ.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh Đ đã kéo dài, khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng nên đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Thực tế, điều kiện và hoàn cảnh thực tế của anh, chị thì không thể có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Vì vậy, cho chị T và anh Đ ly hôn là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung:

- Xác nhận chị T và anh Đ có 03 con chung là:

  1. Đỗ Quang H, sinh ngày 07/12/2005,
  2. Đỗ Thúy N, sinh ngày 13/7/2008,
  3. Đỗ Như Ý, sinh ngày 01/8/2020;

- Chị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và cháu Như Ý; Cháu H thành niên việc ở với ai do cháu tự quyết định. Chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con và xuất trình chứng cứ chứng minh thu nhập, nơi ở. Tại biên bản ghi ý kiến của con thể hiện nguyện vọng muốn ở với mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không đến Toà án, không có ý kiến và không xuất trình chứng cứ chứng minh khả năng nuôi con.

- Xét thấy chị T có đủ điều kiện để nuôi con và nguyện vọng của chị phù hợp với nguyện vọng của con. Vì vậy giao cháu N và cháu Như Ý cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

- Do chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Đ.

[4] Về tài sản chung, nợ chung:

Chị T tự trình bày không có tài sản chung, đồng thời xác nhận không vay nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, vấn đề tài sản chung và nợ sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu và có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 39, Điều 146, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Kim T.

Chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Đỗ Văn Đ.

2. Về con chung:

- Xác nhận chị T và anh Đ có 03 con chung là:

  1. Đỗ Quang H, sinh ngày 07/12/2005,
  2. Đỗ Thúy N, sinh ngày 13/7/2008,
  3. Đỗ Như Ý, sinh ngày 01/8/2020.

- Giao cháu N và cháu Ý cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi cháu N và cháu Ý đối với anh Đ cho đến khi có yêu cầu. Cháu H đã thành niên nên không xem xét.

Anh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung:

- Chị T tự nguyện không yêu cầu giải quyết. Nên Toà án không giải quyết, giành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ việc khác nếu đương sự có yêu cầu và có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Chị Lê Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng, án phí lệ phí Tòa án số [...] ngày 03/7/2024; Đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa.

- Chị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đ có quyền kháng cáo 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - UBND nơi cấp Giấy đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Công Xây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 818/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, TP. HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 818/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger