|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 818/2024/HC-PT Ngày 07 – 8 – 2024 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh
Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Lê Tấn Cường – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 297/2024/TLPT-HC ngày 20 tháng 3 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2024/HC-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2380/2024/QĐ-PT ngày 23/7/2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện:
Ông Dương Ân H, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số D, đường N, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số B, đường N, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1955; Địa chỉ: Số B, đường N, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
Bà Trần Thị T, sinh năm 1961; Địa chỉ: Số B, đường N, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà H1, bà L, bà T là: Ông Cao Minh T1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số B, khóm S, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Người bị kiện:
Ủy ban nhân dân tỉnh Đ; Địa chỉ: Số A, đường C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thiện N – Chủ tịch (có đơn xin vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND tỉnh: Ông Nguyễn Thanh S – Phó Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ (có đơn xin vắng mặt).
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ: Số C, đường C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Phan Thành M – Chủ tịch (có đơn xin vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch: Ông Võ Truyền T2 – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố C (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Sở y tế tỉnh Đ; Địa chỉ: Số E, đường V, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Phước T3 – Phó Phòng kế hoạch tài chính (có mặt).
Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ: Số A, đường L, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh V – Giám đốc (có đơn xin vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Văn T4 – Viên chức Ban Quản lý dự án và phát triển quỹ đất thành phố C (có mặt).
Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ: Số C, đường C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Phan Thành M – Chủ tịch (có đơn xin vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch: Ông Võ Truyền T2 – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố C (có mặt).
Người kháng cáo: Ông Dương Ân H, bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T là người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của bà Trần Thị Kim L trình bày:
Về nguồn gốc đất bà L đang ở thuộc đất của bà Cả M1 là chủ đất cũ trước năm 1975, đến khoảng năm 1979 - 1980 cơ quan nơi bà L công tác là Trạm Vệ sinh dịch tễ và chống sốt rét tỉnh Đồng Tháp (nay là Trung tâm Kiểm soát bệnh tật) có xin và được sự đồng ý của Chủ tịch UBND thị trấn C, cho cơ quan xây hội trường và nhà ở tập thể cho cán bộ nhân viên trong đơn vị. Năm 1987, bà L được chuyển về Trạm Vệ sinh dịch tễ và chống sốt rét, do chưa có nơi ở nên bà L được bố trí ở một căn nhà tập thể kích thước khoảng ngang 2,8m dài 6m, kết cấu nền gạch, khung cột gỗ, vách xây gạch, mái lợp lá.
Đến khoảng năm 1990 căn nhà tập thể của bà L ở bị xuống cấp hư hỏng, mái lợp lá không còn sử dụng được, vào thời điểm đó chủ trương Nhà nước không còn bao cấp về nhà ở nên cơ quan không sửa chữa mà để cho cán bộ, nhân viên tự lo nơi ở.
Vì vậy nên bà L đã sửa chữa xây cất và nới rộng thêm diện tích nhà ở ra ngoài phạm vi đất trống (cùng là đất có nguồn gốc của gia đình bà Cả M1) với kích thước ngang 2,8m - dài 16m và kể từ đó bà L sử dụng diện tích đất xây nhà ở đến khoảng năm 1990 cơ quan địa chính có đo đạc và lập bản đồ giải thửa đất của bà L thuộc thửa số 311, tờ bản đồ số 07, diện tích 48.2m². Trong quá trình sử dụng đất từ năm 1987 lúc còn là nhà tập thể diện tích đất chỉ trong phạm vi ngang 2,8m dài 6m, bà L đã bỏ công lao động bồi đắp, đầu tư san lấp mở rộng diện tích đất ở cho đến nay diện tích đang sử dụng là 48,2m² nhưng không có ai tranh chấp và cơ quan cũng không có ý kiến gì.
Ngoài ra, việc Chủ tịch UBND thành phố C ra Quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà L là dựa trên cơ sở Quyết định số 349/QĐ-UBND ngày 10/12/2019 về việc thu hồi đất của Sở Y tế (khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Qua nội dung của Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của UBND tỉnh Đ đã xác định đối tượng sử dụng đất là Sở Y tế và theo đó thu hồi để giao cho B Quản lý và Phát triển quỹ đất thành phố C. Nhưng trên thực tế bà L là người trực tiếp quản lý sử dụng đất từ năm 1987 đã bỏ công sức, chi phí đầu tư san lấp đất cho đến nay hơn 30 năm qua mà không có ai tranh chấp và đó cũng là nơi ở duy nhất của bà L.
Mặt khác, thửa đất của bà L quản lý sử dụng từ trước đến nay nhưng Sở Y tế không có quản lý, không có Quyết định giao đất và hồ sơ đăng ký về quyền sử dụng đất của Sở Y tế lưu giữ tại cơ quan quản lý đất đai. Trong khi đó về nguồn đất của chủ cũ trước năm 1975, khoảng năm 1977 - 1979 cơ quan xin chính quyền cho cất nhà tập thể trên đất lúc đó chưa có luật đất đai, nên cũng chưa xác định chủ quyền sử dụng đất là của cá nhân hay tổ chức nào. Đến năm 1990 lúc bà L bỏ công sức, tiền của đầu tư san lấp cơi nới mở rộng thêm và có đóng thuế nên việc sử dụng đất của bà L phù hợp với chính sách pháp luật đất đai của Nhà nước. Vì vậy nên việc UBND tỉnh Đ giao đất cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý sử dụng như vậy là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L.
Qua các ý kiến trình bày trên, bà L yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 1806/QĐ-XPHC ngày 11/10/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và một phần của Quyết định 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Phần đất bà H1 đang sử dụng gắn liền với căn nhà được xây cất từ trước năm 1985 qua thời gian từ đó cho đến nay đã qua sửa chữa hiện trạng đang ở là nhà cấp 4 đã xuống cấp. Theo trích lục bản đồ địa chính phần đất trên có diện tích 54,4m² thuộc thửa số 309, tờ bản đồ số 07 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là giấy CNQSDĐ).
Về nguồn gốc đất bà H1 đang ở thuộc một trong số diện tích đất của bà Cả M1 là chủ đất cũ trước năm 1975, đến khoảng năm 1979 - 1980 cơ quan nơi bà H1 công tác là Trạm Vệ sinh dịch tễ và chống sốt rét tỉnh Đồng Tháp (nay là Trung tâm Kiểm soát bệnh tật) có xin và được sự đồng ý của Chủ tịch UBND thị trấn C cho cơ quan xây Hội trường và nhà ở tập thể cho cán bộ, nhân viên trong đơn vị. Năm 1985 bà H1 được tuyển vào làm tại Trạm Vệ sinh dịch tễ và chống sốt rét do chưa có nơi ở nên bà H1 được bố trí ở một căn nhà tập thể kích thước ngang 2,8m - dài 6m, kết cấu nền gạch tàu, khung cột gỗ, vách xây gạch, mái lợp tole xi măng, la phong bằng mê bồ.
Đến khoảng năm 1986 bà H1 có gia đình, căn nhà tập thể bà H1 ở bị xuống cấp hư hỏng, mái lợp tole xi măng không còn sử dụng được nên bà H1 gia cố lên gác gỗ, nền nâng cấp cao nhiều đợt vì ngập lụt hàng năm, vào thời điểm đó chủ trương Nhà nước không còn bao cấp về nhà ở nên cơ quan không sửa chữa mà để cho cán bộ, nhân viên tự lo nơi ở. Vì vậy nên bà H1 đã sửa chữa và cơ nới rộng thêm diện tích nhà ở ra ngoài phạm vi nhà kho của cơ quan đã di dời (cùng là đất có nguồn gốc của gia đình bà Cả M1) và kể từ đó bà H1 sử dụng diện tích đất nhà ở đến khoảng năm 1990, cơ quan địa chính có đo đạc và lập bản đồ thửa đất của bà H1 thuộc thửa số 309, tờ bản đồ số 07, diện tích 54,4m². Trong quá trình sử dụng đất từ năm 1985 lúc còn là nhà tập thể diện tích đất chỉ trong phạm vi ngang 2,8m - dài 6m, bà H1 đã bỏ công lao động bồi đắp, đầu tư san lấp và nâng cấp, sửa chữa mở rộng diện tích nhà ở cho đến nay, diện tích đang sử dụng là 54,4m² nhưng không có ai tranh chấp và cơ quan cũng không có ý kiến gì.
Ngoài ra, việc Chủ tịch UBND thành phố C ra Quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà H1 là dựa trên cơ sở Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 về việc thu hồi đất của Sở Y tế (khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Qua nội dung của Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của UBND tỉnh Đ đã xác định đối tượng sử dụng đất là Sở Y tế và theo đó thu hồi để giao cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C. Nhưng trên thực tế bà H1 là người trực tiếp quản lý sử dụng đất từ năm 1985 đã bỏ công sức, chi phí đầu tư san lấp đất cho đến nay trên 30 năm qua mà không có ai tranh chấp và đó cũng là nơi ở duy nhất của bà H1.
Mặt khác thửa đất của bà H1 quản lý sử dụng từ trước đến nay nhưng Sở Y tế không có quản lý, không có Quyết định giao đất và hồ sơ đăng ký về quyền sử dụng đất của Sở Y tế lưu giữ tại cơ quan quản lý đất đai. Trong khi đó về nguồn gốc đất của chủ cũ trước năm 1975, khoảng năm 1977 - 1979 cơ quan xin chính quyền cho cất nhà tập thể trên đất lúc đó chưa có luật đất đai, nên cũng chưa xác định chủ quyền sử dụng đất là của cá nhân hay tổ chức nào. Đến năm 1992 bà H1 bỏ công sức, tiền của đầu tư san lấp cơ nới mở rộng thêm và có đóng thuế nên việc sử dụng đất của bà H1 phù hợp với chính sách pháp luật đất đai của Nhà nước. Vì vậy nên việc UBND tỉnh Đ giao đất cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý sử dụng như vậy là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H1.
Qua các ý kiến trình bày trên nên bà H1 yêu cầu Tòa án hủy 01 phần Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định và hủy Quyết định số 1807/QĐ-XPHC ngày 11/10/2022 của Chủ tịch UBND thành phố C, tỉnh Đồng Tháp về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Theo đơn khởi kiện của ông Dương Ân H trình bày:
Phần đất ông H đang sử dụng gắn liền với căn nhà được xây cất từ năm 1992, qua thời gian từ đó cho đến nay đã qua sửa chữa hiện trạng đang ở là nhà cấp 4 đã xuống cấp. Theo trích lục bản đồ địa chính phần đất trên có diện tích 61,2m² thuộc thửa số 177, tờ bản đồ số 07 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là Giấy CNQSDĐ).
Về nguồn gốc đất ông H đang ở thuộc một trong số diện tích đất của bà Cả M1 là chủ đất cũ trước năm 1975, đến khoảng năm 1979 - 1980 cơ quan nơi ông H công tác là Trạm Vệ sinh dịch tễ và chống sốt rét tỉnh Đồng Tháp (nay là Trung tâm Kiểm soát bệnh tật) có xin và được sự đồng ý của Chủ tịch UBND thị trấn C cho cơ quan xây hội trường và nhà ở tập thể cho cán bộ nhân viên trong đơn vị. Năm 1987, ông H được chuyển về Trạm Vệ sinh phòng dịch và chống sốt rét do chưa có nơi ở nên ông H được bố trí ở một căn nhà tập thể kích thước ngang 3,8m - dài 6m, kết cấu nền gạch, khung cột gỗ, vách xây gạch, mái lợp lá.
Đến khoảng năm 1992 căn nhà tập thể ông H ở bị xuống cấp hư hỏng, mái lợp lá không còn sử dụng được, vào thời điểm đó chủ trương Nhà nước không còn bao cấp về nhà ở nên cơ quan không sửa chữa mà để cho cán bộ, nhân viên tự lo nơi ở. Vì vậy nên ông H đã sửa chữa xây cất nới rộng thêm diện tích nhà ở ra ngoài phạm vi đất trống (cùng là đất có nguồn gốc của gia đình bà Cả M1) và kể từ đó ông H sử dụng diện tích đất xây nhà ở đến khoảng năm 1992 cơ quan địa chính có đo đạc và lập bản đồ giải thửa đất của ông H thuộc thửa 177, tờ bản đồ số 07, diện tích 61,2m². Trong quá trình sử dụng đất từ năm 1987 lúc còn là nhà tập thể diện tích đất chỉ trong phạm vi ngang 3,8m - dài 6m. Ông H đã bỏ công lao động bồi đắp, đầu tư san lấp mở rộng diện tích đất ở như hiện nay đang sử dụng là 61,2m² nhưng không có ai tranh chấp và cơ quan cũng không có ý kiến gì.
Ngoài ra, việc Chủ tịch UBND thành phố C ra Quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông H là dựa trên cơ sở Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 về việc thu hồi đất của Sở Y tế (khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Qua nội dung của Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của UBND tỉnh Đ đã xác định đối tượng sử dụng đất là Sở Y tế và theo đó thu hồi để giao cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C nhưng trên thực tế ông H là người trực tiếp quản lý sử dụng đất từ năm 1987 đã bỏ công sức, chi phí đầu tư san lấp đất cho đến nay trên 30 năm không có ai tranh chấp và đó cũng là nơi ở duy nhất của ông H.
Mặt khác thửa đất của ông H quản lý sử dụng từ trước đến nay nhưng Sở Y tế không có quản lý, không có quyết định giao đất và hồ sơ đăng ký về quyền sử dụng đất của Sở Y tế lưu giữ tại cơ quan quản lý đất đai. Trong khi đó về nguồn gốc đất của chủ cũ trước năm 1975, khoảng năm 1977-1979 cơ quan xin chính quyền cho cất nhà tập thể trên đất lúc đó chưa có luật đất đai nên cũng chưa xác định chủ quyền sử dụng của cá nhân hay tổ chức nào. Đến năm 1992, ông H bỏ công sức khai phá đầu tư san lắp mở rộng thêm để cất nhà ở, mái lợp tole và có đóng thuế nên việc sử dụng đất của ông H phù hợp với chính sách pháp luật đất đai của Nhà nước. Vì vậy nên việc UBND tỉnh Đ giao đất cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý sử dụng là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H.
Qua các ý kiến trình bày trên nên ông H yêu cầu Tòa án hủy một phần Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ này 10/12/2019 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và phát triển quỹ đất Thành phố C quản lý, khai thác theo quy định và hủy toàn bộ Quyết định số 1808/QĐ-XPHC ngày 11/10/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Theo đơn khởi kiện của bà Trần Thị T trình bày:
Phần đất bà T đang sử dụng gắn liền với căn nhà ở từ năm 1984 cho đến nay đã qua sửa chữa rất nhiều lần. Hiện trạng đang ở là nhà cấp 4 đã xuống cấp trầm trọng. Theo trích lục bản đồ địa chính phần đất trên có diện tích 48,4m² thuộc thửa số 310, tờ bản đồ số 07 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là Giấy CNQSDĐ).
Về nguồn gốc đất bà T đang ở thuộc một trong số diện tích đất của bà Cả M1 là chủ đất cũ trước năm 1975, đến khoảng năm 1979 - 1980 cơ quan nơi bà T công tác là Trạm Vệ sinh dịch tễ và chống sốt rét tỉnh Đồng Tháp (nay là Trung tâm Kiểm soát bệnh tật) có xin và được sự đồng ý của Chủ tịch UBND thị trấn C cho cơ quan xây hội trường và nhà ở tập thể cho cán bộ nhân viên trong đơn vị. Năm 1984, bà T được về Trạm Vệ sinh dịch tễ và chống sốt rét do chưa có nơi ở nên bà T được bố trí ở một căn nhà tập thể kết cấu nền gạch tàu, khung cột gỗ, vách xây gạch, mái lợp tole cimet, la phong bằng mê bồ.
Đến khoảng năm 1987 bà T có gia đình, căn nhà tập thể bà T ở bị xuống cấp hư hỏng, mái lợp tole bà T gia cố lên gác gỗ, nền bà T nâng cấp cao vì ngập lụt hàng năm, gạch tàu không còn sử dụng được, vào thời điểm đó chủ trương Nhà nước không còn bao cấp về nhà ở nên cơ quan không sửa chữa mà để cho cán bộ, nhân viên tự lo nơi ở. Vì vậy nên bà T đã sửa chữa tôn tạo nhiều lần (cùng là đất có nguồn gốc của gia đình bà Cả M1) và kể từ đó bà T sử dụng diện tích đất và nhà ở đến khoảng năm 1990 cơ quan địa chính có đo đạc và lập bản đồ giải thửa đất của bà T thuộc thửa 310, tờ bản đồ số 07, diện tích 48,4m². Trong quá trình bà T sử dụng đất và nhà từ năm 1984 cho đến nay diện tích đang sử dụng là 48,4m², thửa số 310, tờ bản đồ 07, bà T có đóng thuế và quá trình bà T ở đến nay cũng không có ai tranh chấp và cơ quan cũng không có ý kiến gì. Nên bà T làm đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất. Quá trình khiếu nại của bà T kéo dài đến hôm nay vì chưa được thỏa đáng.
Ngoài ra, việc Chủ tịch UBND thành phố C ra Quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà T là dựa trên cơ sở Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 về việc thu hồi đất của Sở Y tế (khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Qua nội dung của Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của UBND tỉnh Đ đã xác định đối tượng sử dụng đất là Sở Y tế và theo đó thu hồi để giao cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C nhưng trên thực tế bà T là người trực tiếp quản lý sử dụng đất từ năm 1984 đã bỏ công sức, chi phí đầu tư tôn tạo sửa chữa cho đến nay trên 30 năm không có ai tranh chấp, ở ổn định, có đóng thuế đất và đó cũng là nơi ở duy nhất của bà T.
Mặt khác thửa đất của bà T quản lý sử dụng từ trước đến nay nhưng Sở Y tế không có quản lý, không có quyết định giao đất và hồ sơ đăng ký về quyền sử dụng đất của Sở Y tế lưu giữ tại cơ quan quản lý đất đai. Trong khi đó về nguồn gốc đất của chủ cũ trước năm 1975, khoảng năm 1977-1979 cơ quan xin chính quyền cho cất nhà tập thể trên đất lúc đó chưa có luật đất đai nên cũng chưa xác định chủ quyền sử dụng của cá nhân hay tổ chức nào, bà T bỏ ra công sức rất nhiều và có đóng thuế đầy đủ nên việc sử dụng đất của bà T phù hợp với chính sách pháp luật đất đai của Nhà nước. Vì vậy nên việc UBND tỉnh Đ giao đất cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý sử dụng là xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của bà T.
Qua các ý kiến trình bày trên nên bà T yêu cầu Tòa án hủy một phần Quyết định số số 349/QĐ-UBND-ND ngày 10/12/2019 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy địnhvà hủy Quyết định số 1809/QĐ-XPHC ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông Cao Minh T1 đại diện theo ủy quyền của bà L, bà H1, ông H, bà T trình bày:
Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét mượn đất của bà Cả M1 để xây dựng Hội trường và nhà cho cán bộ, công nhân viên trong đó có ông H, bà H1, bà T, bà L. Năm 1990, khi sửa chữa nhà không có ai có ý kiến, Sở Y tế cũng không có ý kiến đối với việc sửa chữa, mở rộng diện tích. Năm 1990, cơ quan địa chính đo đạc xác lập diện tích thửa đất. Đến năm 1992, những người khởi kiện tiếp tục sửa chửa mở rộng ra thêm nhưng cũng không ai có ý kiến. Những người khởi kiện sử dụng đất là đất của chủ cũ, đất không có tranh chấp, khi sử dụng có nộp thuế nên theo chính sách đất đai là được công nhận cho những người sử dụng đất. Hiện nay không có hồ sơ xác định là đất công. Nhà và đất những người khởi kiện sử dụng không có báo cáo vào cơ sở dữ liệu Quốc gia. Việc UBND tỉnh thu hồi đất và giao cho Ban Q là không có cơ sở pháp lý. Nay ông H, bà T, bà H1, bà L yêu cầu hủy một phần Quyết định số 349 của UBND tỉnh Đ và các quyết định số 1806, 1807,1808, 1809 của Chủ tịch UBND thành phố C, yêu cầu xem xét tính hợp pháp của các quyết định số 03, 04, 05, 06 của Chủ tịch UBND thành phố C về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và các quyết định số 2584, 2585, 2586, 2588 cùng ngày 08/12/2021 của UBND thành phố C về việc giao đất ở.
Ngoài ra, tại phiên tòa ngày 23/01/2024 ông T1 cung cấp Vi Bằng số 09/2024/VB-TPLSĐ ngày 22/01/2024, nội dung: Năm 1980, ông T5 là Trưởng Trạm vệ sinh phòng dịch – Sốt rét tỉnh Đồng Tháp, ông T5 có hỏi mượn đất trống cạnh bên Trạm vệ sinh phòng dịch – Sốt rét tỉnh Đồng Tháp của bà Cả M1 (nay là các thửa số 177, thửa số 311, thửa số 310, thửa số 309, thửa số 179, thuộc tờ bản đồ số 07, địa chỉ các thửa đất trên tại Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp) để cất nhà tạm cho nhân viên ở và bà C M1 đồng ý cho mượn đất. Khi hỏi mượn ông T5 có hứa khi nào bà Cả M1 cần thì ông T5 trả lại. Sau khi mượn xong ông T5 có đến báo cáo và xin ý kiến của Ủy ban nhân dân thị trấn C và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn C cho ý kiến, nếu bà Cả M1 cho mượn thì cứ việc cất nhà cho nhân viên Trạm ở chứ tôi không có ý kiến gì. Sau đó, ông T5 cho xây dựng nhà tập thể cho cán bộ công nhân viên ở và sinh hoạt.
Theo văn bản ý kiến số 663, 664, 665, 666/UBND-TNMT ngày 31/3/2023 của Chủ tịch UBND thành phố C trình bày:
Ủy ban nhân dân thành phố C có ý kiến đối với vụ bà Trần Thị Kim L như sau:
Thửa đất có diện tích là 48m², tại thửa số 311, tờ bản đồ số 07 hiện do bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1955; Địa chỉ số: 2B, đường N, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp chiếm để xây dựng nhà ở, thuộc một phần trong tổng diện tích là 238,8m² (gồm thửa số 177, diện tích đo đạc thực tế là 61,8m²; thửa số 311, diện tích đo đạc thực tế là 48m²; thửa số 310, diện tích đo đạc thực tế là 48,2m²; thửa số 309, diện tích đo đạc thực tế là 55,4m²; thửa số 179, diện tích đo đạc thực tế là 25,4m²), thuộc tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại Phường B, thành phố C do Trạm vệ sinh phòng dịch - sốt rét (sau đổi tên thành Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Đ) quản lý từ năm 1977.
Ngày 09/8/1989, Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét có Quyết định số 207/QĐ-VSPD về việc sắp xếp nhà ở tập thể. Theo đó, Trạm vệ sinh phòng dịch - Sốt rét bố trí cho cán bộ, công nhân viên vào ở tại dãy nhà tập thể số B, đường N (gồm bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị Thúy H2 và ông Dương Ân H).
Ngày 10 tháng 12 năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Bà Trần Thị Kim L có hành vi chiếm đất công do Nhà nước quản lý tại thửa số 311, tờ bản đồ số 7, diện tích 48m² để làm nhà ở nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 1806/QĐ-XPHC ngày 11 tháng 10 năm 2022 buộc bà Trần Thị Kim L khắc phục hậu quả và trả lại đất đã chiếm cho Nhà nước quản lý là đúng theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó, Ủy ban nhân dân thành phố C đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên Quyết định số 1806/QĐ-XPHC ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Trần Thị Kim L.
Ủy ban nhân dân thành phố C có ý kiến đối với vụ bà Nguyễn Thị H1 như sau:
Thửa đất có diện tích là 55,4m², tại thửa số 309, tờ bản đồ số 07 hiện do bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1962; Địa chỉ số: B, đường N, khóm B, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp chiếm để xây dựng nhà ở, thuộc một phần trong tổng diện tích là 238,8m² (gồm thửa số 177, diện tích đo đạc thực tế là 61,8m²; thửa số 311, diện tích đo đạc thực tế là 48m²; thửa số 310, diện tích đo đạc thực tế là 48,2m²; thửa số 309, diện tích đo đạc thực tế là 55,4m²; thửa số 179, diện tích đo đạc thực tế là 25,4m²), thuộc tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại Phường B, thành phố C do Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét (sau đổi tên thành Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Đ) quản lý từ năm 1977.
Ngày 09/8/1989, Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét có Quyết định số 207/QĐ-VSPD về việc sắp xếp nhà ở tập thể. Theo đó, Trạm vệ sinh phòng dịch - Sốt rét bố trí cho cán bộ, công nhân viên vào ở tại dãy nhà tập thể số B, đường N (gồm bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị Thúy H2 và ông Dương Ân H).
Ngày 10 tháng 12 năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Bà Nguyễn Thị H1 có hành vi chiếm đất công do Nhà nước quản lý tại thửa số 309, tờ bản đồ số 7, diện tích là 55,4m² để làm nhà ở nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 1807/QĐ-XPHC ngày 11 tháng 10 năm 2022 buộc bà Nguyễn Thị H1 khắc phục hậu quả và trả lại đất đã chiếm cho Nhà nước quản lý là đúng theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó Ủy ban nhân dân thành phố C đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên Quyết định số 1807/QĐ-XPHC ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Nguyễn Thị H1.
Ủy ban nhân dân thành phố C có ý kiến đối với vụ ông Dương Ân H như sau:
Thửa đất có diện tích là 61,8m², tại thửa số 177, tờ bản đồ số 07 hiện do ông Dương Ân H, sinh năm 1962; Địa chỉ số: 4B, đường N, tổ C, khóm C, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp chiếm để xây dựng nhà ở, thuộc một phần trong tổng diện tích là 238,8m² (gồm thửa số 177, diện tích đo đạc thực tế là 61,8m²; thửa số 311, diện tích đo đạc thực tế là 48m²; thửa số 310, diện tích đo đạc thực tế là 48,2m²; thửa số 309, diện tích đo đạc thực tế là 55,4m²; thửa số 179, diện tích đo đạc thực tế là 25,4m²), thuộc tờ bản đồ số 07, toạc lạc tại Phường B, thành phố C do Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét (sau đổi tên thành Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Đ) quản lý từ năm 1977.
Ngày 09/8/1989, Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét có Quyết định số 207/QĐ-VSPD về việc sắp xếp nhà ở tập thể. Theo đó, Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét bố trí cho cán bộ, công nhân viên vào ở tại dãy nhà tập thể số B, đường N (gồm bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị Thúy H2 và ông Dương Ân H).
Ngày 10 tháng 12 năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và P triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Ông Dương Ân H có hành vi chiếm đất công do Nhà nước quản lý tại thửa số 177, tờ bản đồ số 7, diện tích 61,8m² để làm nhà ở nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 1808/QĐ-XPHC ngày 11 tháng 10 năm 2022 buộc ông Dương Ân H khắc phục hậu quả và trả lại đất đã chiếm cho Nhà nước quản lý là đúng theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó Ủy ban nhân dân thành phố C đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên Quyết định số 1808/QĐ-XPHC ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Dương Ân H.
Ủy ban nhân dân thành phố có ý kiến đối với vụ bà Trần Thị T như sau:
Thửa đất có diện tích là 48,2m², tại thửa số 310, tờ bản đồ số 07 hiện do bà Trần Thị T, sinh năm 1961; Địa chỉ số: 02, đường N, tổ C, khóm C, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp chiếm để xây dựng nhà ở, thuộc một phần trong tổng diện tích là 238,8m² (gồm thửa số 177, diện tích đo đạc thực tế là 61,8m²; thửa số 311, diện tích đo đạc thực tế là 48m²; thửa số 310, diện tích đo đạc thực tế là 48,2m²; thửa số 309, diện tích đo đạc thực tế là 55,4m²; thửa số 179, diện tích đo đạc thực tế là 25,4m²), thuộc tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại Phường B, thành phố C do Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét (sau đổi tên thành Trung tâm Y tê dự phòng tỉnh Đ) quản lý từ năm 1977.
Ngày 09/8/1989, Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét có Quyết định số 207/QĐ-VSPD về việc sắp xếp nhà ở tập thể. Theo đó, Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét bố trí cho cán bộ, công nhân viên vào ở tại dãy nhà tập thể số B, đường N (gồm bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị Thúy H2 và ông Dương Ân H).
Ngày 10 tháng 12 năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Bà Trần Thị T có hành vi chiếm đất công do Nhà nước quản lý tại thửa số 310, tờ bản đồ số 7, diện tích 48,2m² để làm nhà ở nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định số 1809/QĐ-XPHC ngày 11 tháng 10 năm 2022 buộc bà Trần Thị T khắc phục hậu quả và trả lại đất đã chiếm cho Nhà nước quản lý là đúng theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó Ủy ban nhân dân thành phố C đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên Quyết định số 1809/QĐ-XPHC ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Trần Thị T.
Theo văn bản ý kiến số 14, 17, 18, 21/UBND-TCD-NC ngày 16/01/2023 và 20/01/2023 của UBND tỉnh Đ trình bày:
Đối với bà Trần Thị Kim L: Ngày 10/12/2019, Ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể Trung tâm Y tế dự phòng) với tổng diện tích 238,8m² (gồm thửa số 177, diện tích đo đạc thực tế là 61,8m²; thửa số 311, diện tích đo đạc thực tế là 48m²; thửa số 310, diện tích đo đạc thực tế là 48,2m²; thửa số 309, diện tích đo đạc thực tế là 55,4m²; thửa số 179, diện tích đo đạc thực tế là 25,4m²), thuộc tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại Phường B, thành phố C. Giao lại toàn bộ 238,8m² đất thu hồi trên cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Việc Ủy ban nhân dân Tỉnh thu hồi đất của Sở Y tế tỉnh Đ (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) tại Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 là phù hợp.
Trước đây, bà Trần Thị Kim L và 04 hộ khác khiếu nại yêu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với khu đất thuộc Trung tâm Y tế D (cũ). Qua kết quả kiểm tra xác minh của các ngành chức năng xác định việc khiếu nại của bà L và 04 hộ dân yêu cầu không phù hợp theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, lý do phần diện tích đất trên là đất công thuộc quyền quản lý của Nhà nước, bà Trần Thị Kim L đã được Ủy ban nhân dân Tỉnh trả lời tại Công văn số 42/UBND-TCD-NC ngày 10/02/2020.
Tuy nhiên, qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của hộ bà Trần Thị Kim L, Ủy ban nhân dân Tỉnh đã thống nhất chủ trương giao đất ở (01 nền) có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá tại Khu dân cư P, thành phố C; Ủy ban nhân dân thành phố C đã ban hành quyết định giao đất theo quy định; đồng thời, đề nghị hộ bà Trần Thị Kim L sớm thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định để đảm bảo quyền lợi tại Công văn số 772/UBND-TCD-NC ngày 18/6/2022 của Văn phòng Ủy ban nhân dân Tỉnh.
Nay, bà Trần Thị Kim L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh hủy một phần Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của Ủy ban nhân dân Tỉnh là không có cơ sở; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013 quy định người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; điểm b khoản 2 Điều 68 Luật đất đai năm 2013 quy định quản lý đất đã thu hồi; Ủy ban nhân dân Tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân Tỉnh giữ nguyên Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của Ủy ban nhân dân Tỉnh.
Đối với bà Nguyễn Thị H1: Ngày 10/12/2019, Ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể Trung tâm Y tế dự phòng) với tổng diện tích là 238,8m² (gồm thửa số 177, diện tích đo đạc thực tế là 61,8m²; thửa số 311, diện tích đo đạc thực tế là 48m²; thửa số 310, diện tích đo đạc thực tế là 48,2m²; thửa số 309, diện tích đo đạc thực tế là 55,4m²; thửa số 179, diện tích đo đạc thực tế là 25,4m²), thuộc tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại Phường B, thành phố C. Giao lại toàn bộ 238,8m² đất thu hồi trên cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Việc Ủy ban nhân dân Tỉnh thu hồi đất của Sở Y tế tỉnh Đ (khu đất Khu tập thể T dự phòng) tại Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 là phù hợp.
Trước đây, bà Nguyễn Thị H1 và 04 hộ khác khiếu nại yêu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với khu đất thuộc Trung tâm Y tế D (cũ). Qua kết quả kiểm tra xác minh của các ngành chức năng xác định việc khiếu nại của bà H1 và 04 hộ dân yêu cầu không phù hợp theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, lý do phần diện tích đất trên là đất công thuộc quyền quản lý của Nhà nước, bà Nguyễn Thị H1 đã được Ủy ban nhân dân Tỉnh trả lời tại Công văn số 43/UBND-TCD-NC ngày 10/02/2020.
Tuy nhiên, qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của hộ bà Nguyễn Thị H1, Ủy ban nhân dân Tỉnh đã thống nhất chủ trương giao đất ở (01 nền) có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá tại Khu dân cư P, thành phố C; Ủy ban nhân dân thành phố C đã ban hành quyết định giao đất theo quy định; đồng thời, đề nghị hộ bà Nguyễn Thị H1 sớm thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định để đảm bảo quyền lợi tại Công văn số 773/UBND-TCD-NC ngày 18/6/2022 của Văn phòng Ủy ban nhân dân Tỉnh.
Nay, bà Nguyễn Thị H1 khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh hủy một phần Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của Ủy ban nhân dân Tỉnh là không có cơ sở; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013 quy định người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; điểm b khoản 2 Điều 68 Luật đất đai năm 2013 quy định quản lý đất đã thu hồi; Ủy ban nhân dân Tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân Tỉnh giữ nguyên Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của Ủy ban nhân dân Tỉnh.
Đối với ông Dương Ân H: Ngày 10/12/2019, Ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể Trung tâm Y tế dự phòng) với tổng diện tích là 238,8m² (gồm thửa số 177, diện tích đo đạc thực tế là 61,8m²; thửa số 311, diện tích đo đạc thực tế là 48m²; thửa số 310, diện tích đo đạc thực tế là 48,2m²; thửa số 309, diện tích đo đạc thực tế là 55,4m²; thửa số 179, diện tích đo đạc thực tế là 25,4m²), thuộc tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại Phường B, thành phố C. Giao lại toàn bộ 238,8m² đất thu hồi trên cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Việc Ủy ban nhân dân Tỉnh thu hồi đất của Sở Y tế tỉnh Đ (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) tại Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 là phù hợp.
Trước đây, ông Dương Ân H và 04 hộ khác khiếu nại yêu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với khu đất thuộc Trung tâm Y tế D (cũ). Qua kết quả kiểm tra xác minh của các ngành chức năng xác định việc khiếu nại của ông H và 04 hộ dân yêu cầu không phù hợp theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, lý do phần diện tích đất trên là đất công thuộc quyền quản lý của Nhà nước, ông Dương Ân H đã được Ủy ban nhân dân Tỉnh trả lời tại Công văn số 41/UBND-TCD-NC ngày 10/02/2020.
Tuy nhiên, qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của hộ ông Dương Ân H, Ủy ban nhân dân Tỉnh đã thống nhất chủ trương giao đất ở (01 nền) có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá tại Khu dân cư P, thành phố C; Ủy ban nhân dân thành phố C đã ban hành quyết định giao đất theo quy định; đồng thời, đề nghị hộ ông Dương Ân H sớm thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định để đảm bảo quyền lợi tại Công văn số 771/UBND-TCD-NC ngày 18/6/2022 của Văn phòng Ủy ban nhân dân Tỉnh.
Nay, ông Dương Ân H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh hủy một phần Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của Ủy ban nhân dân Tỉnh là không có cơ sở; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013 quy định người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; điểm b khoản 2 Điều 68 Luật đất đai năm 2013 quy định quản lý đất đã thu hồi; Ủy ban nhân dân Tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân Tỉnh giữ nguyên Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của Ủy ban nhân dân Tỉnh.
Đối với bà Trần Thị T: Ngày 10/12/2019, Ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể Trung tâm Y tế dự phòng) với tổng diện tích là 238,8m² (gồm thửa số 177, diện tích đo đạc thực tế là 61,8m²; thửa số 311, diện tích đo đạc thực tế là 48m²; thửa số 310, diện tích đo đạc thực tế là 48,2m²; thửa số 309, diện tích đo đạc thực tế là 55,4m²; thửa số 179, diện tích đo đạc thực tế là 25,4m²), thuộc tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại Phường B, thành phố C. Giao lại toàn bộ 238,8m² đất thu hồi trên cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định.
Việc Ủy ban nhân dân Tỉnh thu hồi đất của Sở Y tế tỉnh Đ (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) tại Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 là phù hợp. Trước đây, bà Trần Thị T và 04 hộ khác khiếu nại yêu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với khu đất thuộc Trung tâm Y tế D (cũ). Qua kết quả kiểm tra xác minh của các ngành chức năng xác định việc khiếu nại của bà T và 04 hộ dân yêu cầu không phù hợp theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, lý do phần diện tích đất trên là đất công thuộc quyền quản lý của Nhà nước, bà Trần Thị T đã được Ủy ban nhân dân Tỉnh trả lời tại Công văn số 40/UBND-TCD-NC ngày 10/02/2020.
Tuy nhiên, qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của hộ bà Trần Thị T, Ủy ban nhân dân Tỉnh đã thống nhất chủ trương giao đất ở (01 nền) có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá tại Khu dân cư P, thành phố C; Ủy ban nhân dân T đã ban hành quyết định giao đất theo quy định; đồng thời, đề nghị hộ bà Trần Thị T sớm thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định để đảm bảo quyền lợi tại Công văn số 770/UBND-TCD-NC ngày 18/6/2022 của Văn phòng Ủy ban nhân dân Tỉnh.
Nay, bà Trần Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh hủy một phần Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của Ủy ban nhân dân Tỉnh là không có cơ sở; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013 quy định người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; điểm b khoản 2 Điều 68 Luật đất đai năm 2013 quy định quản lý đất đã thu hồi; Ủy ban nhân dân Tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân Tỉnh giữ nguyên Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10/12/2019 của Uỷ ban nhân dân Tỉnh.
Theo Văn bản số 88/SYT-TCCB ngày 06/01/2023 của Sở Y tế tỉnh Đ trình bày:
Ngày 31/7/2019, Sở Y có công văn số 2201/SYT-KHTC gửi Sở T về việc thu hồi khu đất khu tập thể Trung tâm Y tế dự phòng (cũ). Trong đó, Sở Y nêu ý kiến: “Hiện tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật không có nhu cầu khai thác sử dụng phần đất làm nhà kho hay phần đất Khu tập thể. Tuy nhiên phần diện tích đất này đã qua nhiều năm, qua nhiều lần Trung tâm y tế dự phòng (cũ) thay đổi vị trí trụ sở làm việc, nên đến nay đơn vị cũng không có bất kỳ hồ sơ pháp lý và không báo cáo trên cơ sở dữ liệu Quốc gia về tài sản, nên không có cơ sở để làm thủ tục trả lại diện tích đất được ghi trong Quyết định trên”.
Sở Y tế gửi ý kiến đến Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Theo Ban Q1 đất thành phố C: Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án cho Ban Q1 đất thành phố C nhưng Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất thành phố C không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án.
Theo văn bản ý kiến số 2226/UBND-TNMT ngày 26/9/2023 của UBND thành phố C trình bày:
Ngày 09/8/1989, Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét có Quyết định số 207/QĐ-VSPD về việc sắp xếp nhà ở tập thể. Theo đó, Trạm vệ sinh phòng dịch Sốt rét bố trí cho cán bộ, công nhân viên vào ở tại dãy nhà tập thể số B, đường N (gồm bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị Thúy H2 và ông Dương Ân H).
Ngày 10 tháng 12 năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ về việc thu hồi đất của Sở y tế (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định. Bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1 và ông Dương Ân H có hành vi chiếm đất công do Nhà nước quản lý để làm nhà ở nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và buộc bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1 và ông Dương Ân H khắc phục hậu quả và trả lại đất đã chiếm cho Nhà nước quản lý là đúng theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Việc Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành các Quyết định số 2584, 2585, 2586, 2588/QĐ-UBND ngày 08/12/2021 của UBND thành phố C về việc giao đất cho ông Dương Ân H, bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T là thực hiện theo chỉ đạo tại nội Công văn số 253/VPUBND-TDC-NC ngày 21 tháng 6 năm 2019 của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về việc khiếu nại của ông Dương Ân H và 04 hộ dân (Khu tập thể Trung tâm Y tế dự phòng). Ngày 22 tháng 9 năm 2023, Uỷ ban nhân thành phố C có Công văn số 2216/UBND-HC về việc vắng mặt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại vụ kiện hành chính theo đơn khởi kiện của ông Dương Ân H, bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T.
Do đó, Ủy ban nhân dân thành phố C đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp căn cứ vào chứng cứ thu thập được mà xem xét giải quyết theo quy định.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2024/HC-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, đã căn cứ: Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điểm c khoản 1 Điều 64, Điểm c khoản 1 Điều 65, Điều 66, 68, 71 Luật đất đai năm 2013; Điều 28, 38, 65, 70, 85, 86, 87 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Điều 17 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ T6 Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng, thu hồi đất; Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 12, khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Dương Ân H, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu hủy một phần Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định và hủy các Quyết định số 1806, 1807, 1808, 1809/QĐ-XPHC cùng ngày 11/10/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 05/02/2024, ông Dương Ân H, bà Nguyễn Thị H1, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T có làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm xét xử không xem xét theo thực tế nguồn gốc sử dụng đất của các ông, bà; đề nghị phúc xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các ông, bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người đại diện theo ủy quyền của những người khởi kiện cho rằng, nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Cả M1. Năm 1979 – 1980, thì trạm vệ sinh phòng dịch sốt rét tỉnh Đồng Tháp có mượn một phần đất của bà Cả M1 để xây hội trường và nhà ở tập thể cho cán bộ. Những người khởi kiện cũng được bố trí một căn để làm nơi ở. Đến năm 1990, nhà xuống cấp nên những người khởi kiện có xây dựng lại nhà ở ra ngoài phạm vi đất trống có cùng nguồn gốc là đất của bà Cả M1 nhưng không phải là phần diện tích mà trạm vệ sinh đã mượn. Những người khởi kiện đã sử dụng liên tục công khai ngay tình trên 30 năm, có cơ nới, sửa chữa mở rộng thêm để cất nhà ở, có đóng thuế đất ở cho Nhà nước nên có đủ điều kiện để được công nhận quyền sử dụng đất. Người bị kiện cho rằng đây là đất công thì cũng không có cơ sở chứng minh, vì đất này cũng không được kê khai là đất công trên cổng thông tin quốc gia. Từ những lý do trên, việc Ủy ban tỉnh Đ thu hồi đất là không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người khởi kiện. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của những người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch và Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp bảo lưu các ý kiến đã trình bày trước đây, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định. Về nội dung: Xét kháng cáo của người khởi kiện thì thấy rằng, Quyết định số 207 năm 1987 là quyết định giao nhà ở cho cán bộ chứ không phải là quyết định giao đất. Người khởi kiện có kê khai, đăng ký cấp quyền sử dụng đất, nhưng Nhà nước cũng xác định là đất công nên không chấp nhận. Đây là đất nhà ở tập thể, khi thu hồi cũng đã thực hiện phương án hỗ trợ bố trí tái định cư, nhưng người khởi kiện không đồng ý nhận. Như vậy, người bị kiện ra quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đúng quy định. Những người khởi kiện kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính bác kháng cáo của những người khởi kiện, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn Kháng cáo của người khởi kiện là ông Dương Ân H, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1 trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án và xét yêu cầu kháng cáo của những người khởi kiện, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về hình thức,
[2.1.1] Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định được ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65, Điều 66, điểm b khoản 2 Điều 68 Luật đất đai 2013; Điều 17 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ T6 Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng, thu hồi đất.
[2.1.2] Các Quyết định số 1806, 1807, 1808, 1809/QĐ-XPHC cùng ngày 11/10/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả được ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 38, khoản 2 Điều 65, Điều 85 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020; Điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 14 của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
[2.2] Về nội dung:
[2.2.1] Những người khởi kiện cho rằng, Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét mượn đất của bà Cả M1 để xây dựng Hội trường và nhà cho cán bộ, công nhân viên, trong đó có ông H, bà H1, bà T, bà L. Năm 1990, khi sửa chữa nhà không có ai có ý kiến, Sở y tế cũng không có ý kiến đối với việc sửa chữa, mở rộng diện tích. Năm 1990, cơ quan địa chính đo đạc xác lập diện tích thửa đất. Đến năm 1992, những người khởi kiện tiếp tục sửa chửa mở rộng ra thêm nhưng cũng không ai có ý kiến. Những người khởi kiện sử dụng đất là đất của chủ cũ, đất không có tranh chấp, khi sử dụng có nộp thuế nên theo chính sách đất đai là được công nhận cho những người sử dụng đất. Hiện nay không có hồ sơ xác định là đất công. Nhà và đất những người khởi kiện sử dụng không có báo cáo vào cơ sở dữ liệu Quốc gia. Việc Ủy ban nhân dân Tỉnh thu hồi đất và giao cho Ban Q là không có cơ sở pháp lý. Đồng thời, Chủ tịch UBND thành phố C ra các quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là không đúng quy định của pháp luật.
UBND tỉnh Đ và Chủ tịch UBND thành phố C cho rằng việc ban hành quyết định thu hồi đất và ban hành quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
[2.2.2] Xét thấy, ông H, bà H1, bà T, bà L được cấp nhà tập thể và sắp xếp nhà ở tập thể theo Quyết định số 207 của Ban lãnh đạo Trạm vệ sinh phòng dịch Đồng Tháp. Theo quyết định này là cấp nhà, sắp xếp lại nhà ở, bố trí, ấn định thời gian, đồng thời tổ chức việc hoán đổi và bố trí người vào ở nên theo quyết định này là cấp nhà để cán bộ ở làm việc không phải cấp cho cán bộ được quản lý, sở hữu căn nhà và không có cấp đất cho cán bộ sử dụng nhà ở.
Ông H, bà H1, bà T, bà L cho rằng năm 1990, khi sửa chữa nhà không có ai có ý kiến, Sở y tế tỉnh Đ cũng không có ý kiến đối với việc sửa chữa, mở rộng diện tích. Năm 1990, cơ quan địa chính đo đạc xác lập diện tích thửa đất. Đến năm 1992, những người khởi kiện tiếp tục sửa chửa mở rộng ra thêm nhưng cũng không ai có ý kiến. Thấy rằng, việc sửa chữa, mở rộng diện tích của người khởi kiện là để đảm bảo cho việc sử dụng nhà để ở công tác, những người khởi kiện không xin phép việc sửa chữa nhà và mở rộng diện tích với cơ quan trực tiếp quản lý hay Cơ quan nhà nước có thẩm quyền là không phù hợp và không đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, những người khởi kiện cho rằng sử dụng đất là xin đất của chủ cũ, đất không có tranh chấp, khi sử dụng có nộp thuế nên theo chính sách đất đai là được công nhận cho những người sử dụng đất. Nhưng tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện cũng xác định Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét xin đất của chủ đất cũ để cất nhà ở tập thể và xây dựng Hội trường, cho nên việc xin đất này là cho Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét không phải cho cá nhân những người khởi kiện và cũng không phải cá nhân của những người khởi kiện xin đất của chủ cũ để cất nhà ở.
Đối với phần đất của những người khởi kiện đã kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất nhưng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định đây là đất công nên không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, những người khởi kiện đã khiếu nại và đã được Chủ tịch UBND thành phố Cao Lãnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ đã có văn bản trả lời đơn khiếu nại về việc đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ, do xác định đây là đất công do Nhà nước quản lý nên không chấp nhận việc khiếu nại. Cho nên những người khởi kiện cho rằng sử dụng đất có nộp thuế theo chính sách đất đai là được công nhận cho những người sử dụng đất là không phù hợp và không có căn cứ.
Theo văn bản ý kiến của người bị kiện là UBND Tỉnh cho rằng đất của những người khởi kiện sử dụng là đất công, do đất này Trạm vệ sinh phòng dịch-Sốt rét, sau này đổi tên thành Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Đ quản lý từ năm 1977 thuộc quyền quản lý của Sở Y tế tỉnh Đ, tại Quyết định số 207 ngày 09/8/1989 Trạm vệ sinh phòng dịch – Sốt rét đã cấp nhà và sắp xếp nhà ở tập thể cho những người khởi kiện đã thể hiện việc quản lý, sử dụng của nhà nước đối với phần đất này, nhưng do quá trình quản lý, sử dụng đã lâu nên không còn hồ sơ pháp lý liên quan và không có báo cáo kê khai tài sản công vào cơ sở dữ liệu quốc gia, nay Sở Y tế tỉnh Đ có văn bản xác định không có nhu cầu khai thác sử dụng phần đất làm nhà kho hay phần đất khu tập thể thì Nhà nước thu hồi căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật đất đai năm 2013 là phù hợp và có cơ sở pháp lý.
Như vậy, việc ông H, bà H1, bà L, bà T yêu cầu hủy một phần Quyết định số 349 về việc thu hồi đất là không có căn cứ.
[2.2.3] Như đã phân tích ở mục [2.2.2] thì Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định là đúng quy định về nội dung và hình thức. Do đó, Các Quyết định số 1806, 1807, 1808, 1809/QĐ-XPHC cùng ngày 11/10/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là có căn cứ đúng pháp luật.
[2.2.4] Ngoài ra, trên thực tế Ủy ban nhân dân tỉnh Đ và Ủy ban nhân dân thành phố C đã xem xét điều kiện hoàn cảnh của những người khởi kiện đã ban hành các quyết định giao đất ở tại khu dân cư P thành phố C cho 04 hộ khởi kiện nhưng những người khởi kiện không đồng ý nhận nền do cho rằng việc giao nền phải trả tiền là không tương xứng và không giải quyết thỏa đáng quyền lợi hợp pháp của những người khởi kiện.
[3] Từ những căn cứ trên, xét thấy tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Ân H, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1 về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định và hủy các Quyết định số 1806, 1807, 1808, 1809/QĐ-XPHC cùng ngày 11/10/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của những người khởi kiện kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới nên không có cơ sở chấp nhận. Phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên những người kháng cáo là ông Dương Ân H, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định. Ông Dương Ân H, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1 là người cao tuổi được miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Ân H, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2024/HC-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Áp dụng Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điểm c khoản 1 Điều 64, Điểm c khoản 1 Điều 65, Điều 66, 68, 71 Luật đất đai năm 2013; Điều 28, 38, 65, 70, 85, 86, 87 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020; Điều 33 của Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Điều 17 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ T6 Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng, thu hồi đất; Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 12, khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Dương Ân H, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu hủy một phần Quyết định số 349/QĐ-UBND-NĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 của UBND tỉnh Đ về việc thu hồi đất của Sở Y tế (Khu đất Khu tập thể T dự phòng) giao lại cho Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố C quản lý, khai thác theo quy định và hủy các Quyết định số 1806, 1807, 1808, 1809/QĐ-XPHC cùng ngày 11/10/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Dương Ân H, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị T, bà Nguyễn Thị H1 được miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm theo luật định.
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Mười |
Bản án số 818/2024/HC-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 818/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
