TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 816/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18/8/2023 V/v: Tranh chấp ly hôn giữa chị T và anh Th | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Duy Minh Chính
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thái Thục Hiền
- Ông Đoàn Văn Rỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh – Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 593/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/7/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 127/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thanh T; Sinh năm 1990;
Nơi cư trú: đường O, Phường Y, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bị đơn: Anh Phạm Quốc Th; Sinh năm 1985;
Nơi cư trú: đường S, Phường X, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh;
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, nguyên đơn chị Trần Thanh T trình bày:
Chị T và anh Phạm Quốc Th chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường Y, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 33/2011, đăng ký ngày 03/6/2011.
Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do giữa chị T và anh Th bất đồng quan điểm sống, bất đồng về suy nghĩ và cách giải quyết các vấn đề trong cuộc sống vợ chồng. Mặc dù đã nhiều lần tự hoà giải, hàn gắn nhưng mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tiếng nói chung, không chia sẻ được các vấn đề trong cuộc sống gia đình nên cả hai đã sống ly thân từ tháng 01/2023 đến nay. Nhận thấy cả hai đã không còn tình cảm, chị T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn anh Th.
Về con chung: Chị T xác định giữa chị T và anh Th có một con chung tên: Phạm Trần Anh K, sinh ngày 27/3/2012.
Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung K sau khi ly hôn. Chị T không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T tự xác định giữa chị T và anh Th không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Quốc Th đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi được lời khai, không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và xét xử, Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, về thời hạn giải quyết vụ án đảm bảo theo quy định của pháp luật, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn thực hiện chưa đầy đủ các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thanh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Anh Phạm Quốc Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để hòa giải mà vẫn cố tình vắng mặt. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ Luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được.
Anh Th đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập dự phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Thắng theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn – chị Trần Thanh T có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn khởi kiện của chị Trần Thanh T thì đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên, do bị đơn là anh Phạm Quốc Th có cư trú tại Quận 8, nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
Chị T và anh Phạm Quốc Th kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường Y, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số số 33/2011, đăng ký ngày 03/6/2011, nên xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của chị T, chị T trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do giữa chị T và anh Th bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên tranh cãi. Dù đã cố gắng hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn sự chia sẻ và tôn trọng nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không còn đạt được và cả hai đã không còn chung sống như vợ chồng từ tháng 01/2023 đến nay. Nên chị T yêu cầu được ly hôn. Căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của chị T là có căn cứ cần giải quyết.
Xét thấy, anh Th đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng anh Th vẫn vắng mặt và cũng không có mặt tại phiên tòa xét xử, điều này thể hiện anh Th không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh Th không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được, nên yêu cầu ly hôn của chị Triều là có căn cứ cần chấp nhận vì phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.2] Về con chung: Chị T xác định giữa chị T và anh Th có một con chung tên: Phạm Trần Anh K, sinh ngày 27/3/2012.
Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung K sau khi ly hôn, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Ngày 14/7/2023, trẻ K có văn bản thể hiện ý kiến muốn được sống chung với mẹ.
Xét yêu cầu của chị T là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình mặt khác cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung và đảm bảo quyền lợi của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao trẻ Phạm Trần Anh K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi chị T và anh Th ly hôn. Ghi nhận việc chị T không có yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Th.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T tự khai giữa chị T và anh Th không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến của anh Th về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.
[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (Ly hôn) là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 207, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13;
Áp dụng:
- - Các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13;
- - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thanh T được ly hôn với anh Phạm Quốc Th;
- Về nuôi con chung:
Giao trẻ Phạm Trần Anh K, sinh ngày 27/3/2012 cho chị Trần Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Ghi nhận việc chị T không có yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Phạm Quốc Th cho đến khi có yêu cầu.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Anh Th có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Trường hợp có tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm (Ly hôn) là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), chị Trần Thanh T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0035863 ngày 31/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lương Duy Minh Chính |
Bản án số 816/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 816/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình, chị Trần Thanh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Quốc Th và được Tòa án chấp nhận
