Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 815/2024/HS-PT

Ngày: 11 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng

Ông Phan Nhựt Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 541/2024/HSPTngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Văn T và Phùng Thị Thanh T1.

Do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 218/2024/HS –ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Huỳnh Văn T; giới tính: Nam; Sinh năm 1972 tại: Campuchia; Thường trú: B M, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: phòng trọ số D, nhà số A đường số A, Ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; cha: Huỳnh Văn N, đã chết; mẹ: Đặng Thị P, không rõ năm sinh; vợ: Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1983; tiền sự: Không.

- Tiền án:

  • + Bản án số 1546/HSST ngày 26/6/2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 13 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/02/2019 (BL 161). Chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt sung công quỹ.
  • + Bản án số 109/HSST ngày 07/6/1993, Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 36 tháng tù, về tội “Cướp tài sản của công dân”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 01/11/1995. Cơ quan thi hành án dân sự không thụ lý bản án.
  • + Bản án số 1632/HSPT ngày 19/9/1998, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao y án sơ thẩm theo Bản án số 2180/HSST ngày 20/11/1997 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 10 năm tù, về tội “Cướp tài sản của công dân”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/10/2004 (BL 160). Miễn thi hành án phí HSST và HSPT ngày 23/6/2010.

- Nhân thân:

Tạm giam từ ngày 21/8/2022 đến nay tại Trại tạm giam C, T - Công an Thành phố H

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

2. Họ và tên: Phùng Thị Thanh T1; giới tính: Nữ; sinh năm 1981 tại tỉnh Tiền Giang; thường trú: 285/101/30 C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; ở: phòng trọ số D, nhà số A đường số A, Ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; cha: Phùng Thanh X, sinh năm 1958; mẹ: Trần Thị L1, đã chết; chồng: Đỗ Đăng Đ (ly hôn); con: Phùng Thị Thanh T2, sinh năm 1999; chung sống như vợ chồng với Huỳnh Văn T (bị can chung vụ án);

- Tiền án:

  • + Bản án số 1546/HSST ngày 26/6/2009, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 08 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/12/2013 (BL 205). Chấp hành xong phần nộp án phí HSST và nộp phạt sung công quỹ ngày 03/12/2010.
  • + Bản án số 23/HSST ngày 16/02/2017, Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 08/01/2021 (BL 206). Chưa nộp án phí Hình sự sơ thẩm và tiền phạt sung công quỹ.

- Tiền sự: không

- Nhân thân: Ngày 23/12/2015, Công an Q bắt, hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 29/01/2016, U, Quận A ra Quyết định số 173, hủy Quyết định đưa người nghiện vào cơ sở xã hội.

Tạm giam từ ngày 21/8/2022 đến nay tại Trại tạm giam C, T - Công an Thành phố H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người bào chữa chỉ định cho 02 bị cáo: Ông Trịnh Bá T3, luật sư Đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15h30 phút, ngày 21/8/2022, tại trước địa chỉ B Quốc lộ E, ấp B, xã B, huyện B, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện B phối hợp Công an xã B, huyện B kiểm tra, bắt quả tang Huỳnh Văn T đang điều khiển xe gắn máy biển số 59N2-82211 chở theo Phùng Thị Thanh T1, có hành vi cất giấu chất ma túy mang đi bán. Vật chứng thu giữ: 01 túi giấy có ghi chữ FRIENDS, trong túi giấy có 01 (một) bịch nylon màu đen đựng 01 bịch nylon màu vàng có ghi chữ GUANYINWANG bên trong chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 990,44 g, loại Methamphetamine (Kết luận giám định số 4857/KL-KTHS ngày 30/8/2022 của Phòng K Công an Thành phố H (Bút lục 51).

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T và T1 tại phòng trọ số D, địa chỉ A đường số A, ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, không phát hiện và thu giữ gì liên quan đến ma túy.

Huỳnh Văn T và Phùng Thị Thanh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: T và T1 chung sống với nhau như vợ chồng, bắt đầu hoạt động mua bán trái phép chất ma túy từ tháng 6/2022, nguồn ma túy T1 và T mua từ một người đàn ông tên thường gọi là “G” ở khu vực chợ V1 thuộc Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi người nghiện cần mua ma túy thì sẽ gọi qua số điện thoại của T và T1 để thống nhất giá cả và hẹn địa điểm giao dịch. T1 và T mua của G được 02 lần, thời gian vào cuối tháng 6 và giữa tháng 7/2022, mỗi lần 100g ma tuý đá giá 35.000.000 đồng. Sau đó mang về chia thành hộp 5 (5 gam) và hộp 10 (10 gam) để bán lại cho khách, hộp 10 giá 3.600.000 đồng đến 4.000.000 đồng, hộp 5 giá 2.700.000 đồng. Khách mua ma túy của T và T1 ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (không nhớ cụ thể thời điểm giao dịch và địa điểm bán ma túy). Bán hết 100 gam ma túy, T và T1 thu lợi từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền thu lợi T và T1 đã tiêu xài hết.

Vào ngày 21/8/2022, có một người nam thanh niên (không rõ lai lịch) gọi điện cho T hỏi mua 01 kg ma túy đá. T đưa điện thoại cho T1 trao đổi với người này, thống nhất giá bán 295.000.000 đồng/1 kg ma túy. Do “G” là người bán ma túy trước đây đã bị bắt, nên S (không rõ lai lịch) giới thiệu người bán ma túy khác để T và T1 liên lạc. Sau khi trao đổi với người bán ma túy, T điều khiển xe máy biển số 59N2-822.11 chở T1 đi đến gặp 02 nam thanh niên (không rõ lai lịch) chạy xe V và xe AirBlade (không rõ biển số) tại quán C1 ở khu vực B, Quận H. Trao đổi thống nhất xong, T1 đưa cho người thanh niên chạy xe AirBlade 290.000.000 đồng, T chở T1 cùng người thanh niên chạy xe V đi theo người thanh niên chạy xe AirBlade đến Phường A, Quận H đứng đợi. Khoảng 05 phút sau, người thanh niên chạy xe AirBlade quay lại chở theo một bao quần áo và đề nghị giao dịch tại phòng trọ của T và T1. Khi về đến nơi, người thanh niên bán ma túy lấy từ trong bao quần áo ra 01 bịch nylon màu đen bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy đá. Sau khi thử ma túy, T và T1 đồng ý mua thì hai người thanh niên kia rời đi. Lúc này, người hỏi mua ma túy trước đó điện thoại, T và T1 hẹn địa điểm giao dịch tại Ngã tư Quốc lộ E. T1 cầm gói ma túy gói vào trong bịch nylon màu vàng có ghi chữ GUANYINWANG rồi bỏ vào bịch nylon màu đen, sau đó bỏ vào túi xách bằng giấy và ngồi sau xe máy biển số 59N2-82211 do T điều khiển. Khi cả hai đi đến trước địa chỉ A ấp B, xã B, huyện B thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

* Vật chứng vụ án:

  • - 01 thùng niêm phong ghi nội dung “vụ 4857(995)/22 BChánh”, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Mạnh C và điều tra viên Đỗ Đình T4, bên trong là mẫu còn lại sau giám định.
  • - 01 xe máy biển số 59N2-82211, loại SH, số khung: RLHJF4224FY049124, số máy: JF42E1048752. Kết quả giám định số khung, số máy bị mài đục, không xác định được số nguyên thuỷ. Xác minh biển số 59N2-82211 được cấp cho xe máy hiệu Honda SH125i, số máy: JF42E1048752, số khung: RLHJF4224FY049124, do bà Nguyễn Ngọc Cẩm T5, địa chỉ F Ấp F, xã V, huyện B, Tp . đứng tên chủ sở hữu. Bà T5 trình bày vào khoảng tháng 12/2016 có mua xe máy hiệu Honda SH125i, được cấp biển số 59N2-82211 và đã bán chiếc xe trên cho một người đàn ông (không nhớ lai lịch).
  • Bị cáo Phùng Thị Thanh T1 khai mua xe của một người bạn (không rõ lai lịch), không làm thủ tục sang tên. Ngày 21/8/2022, T1 và T đã sử dụng xe đi mua bán ma tuý bị thu giữ.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 điện thoại di động hiệu Vivo; 01 điện thoại di động hiệu Nokia: T1 sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Vivo; 01 điện thoại di động hiệu Redmi: T sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý.
  • - 01 bịch nylon màu vàng có ghi chữ “GUANYINWANG”; 01 bịch nylon màu đen; 01 túi giấy ghi chữ “FRIENDS”: T1 và T dùng để cất giấu ma tuý.

Cáo trạng số: 86/CTr-VKS-P1, ngày 30/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn T và Phùng Thị Thanh T1, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự

Bản án sơ thẩm số 218/2024/HS –ST ngày 10/5/2024 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 4, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T: Tử hình, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/8/2022, tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Văn T để đảm bảo thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Phùng Thị Thanh T1: Tử hình, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/8/2022, tiếp tục tạm giam bị cáo Phùng Thị Thanh T1 để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 01(một) thùng niêm phong ghi nội dung “vụ 4857(995)/22 BChánh”, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Mạnh C và điều tra viên Đỗ Đình T4, bên trong là mẫu còn lại sau giám định.
  • 01 bịch nylon màu vàng có ghi chữ “GUANYINWANG”; 01 bịch nylon màu đen; 01 túi giấy ghi chữ “FRIENDS”: T1 và T dùng để cất giấu ma tuý.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone (...1189, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo (có chữ MULTI ở mắt camera, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong; 01 điện thoại di động hiệu Nokia (...7171, đã cũ, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) : T1 sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý.
  • 01 điện thoại di động hiệu Vivo (01 ViVo màu xanh dương, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) ; 01 điện thoại di động hiệu Redmi (không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) : T sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý.
  • 01 xe hai bán gắn máy; nhãn hiệu: HONDA; số loại: SH125I; dung tích xi lanh: 125; BS: 59N2-822.11, SK: RLHJF4224FY049124, SM: JF42E-1048752.

(Biên bản tang tài vật số NK2023/246 ngày 13/4/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh)

- Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ngày 14 tháng 5 năm 202, bị cáo Phùng Thị Thanh T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 bị cáo Huỳnh Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với lý do bản án tuyên quá nặng với các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của hai bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T: Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phùng Thị Thanh T1: Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn T: Luật sư thống nhất với bản án sơ thẩm về tội danh và Điều khoản áp dụng cho bị cáo nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, do hoàn cảnh khó khănn nên không nộp tiền án phí của bản án trước. Bị cáo là chồng, làm nghề chạy xe ôm, giao dịch không biết lời, lỗ bao nhiêu, thể hiện bị cáo không phải là người chủ mưu cầm đầu trong vụ án.

Đối với khối lượng 200 gam ma túy trước đó do các bị cáo khai nhận, không thu giữ được ma túy nên bị cáo không phạm tội thuộc trường hợp phạm tội “02 lần trở lên” sẽ ảnh hưởng đối với mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo T.

Bào chữa cho bị cáo Phùng Thị Thanh T1: Luật sư cũng đề nghị không xem xét đối với khối lượng ma túy mua bán trước đó. Luật sư cho rằng: khối lượng ma túy mua bán đã được thu giữ nên chưa được phát tán; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có gia đình sớm và sớm gánh vác cuộc sống. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo hình phạt chung thân.

Bị cáo Phùng Thị Thanh T1, Huỳnh Văn T thống nhất với quan điểm bào chữa của luật sư, không bào chữa bổ sung.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư và các bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của hai bị cáo Huỳnh Văn T và Phùng Thị Thanh T1 nộp trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Huỳnh Văn T và Phùng Thị Thanh T1 khai nhận về hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra đúng như nội dung bản án sơ thẩm quy kết, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các biên bản hỏi cung, vật chứng thu giữ là số ma tuý đã thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, lời khai người làm chứng, kết luận giám định. Từ đó có cơ sở kết luận:

Vì động cơ tư lợi, các bị cáo Huỳnh Văn T và Phùng Thị Thanh T1 đã mua ma túy của các đối tượng G, S không rõ lai lịch, mang về nơi ở cất giấu để bán lại cho người khác, thu lợi bất chính. Ngày 21/8/2022, bị cáo T điều khiển xe gắn máy chở bị cáo T1 mang đi bán cho khách thì bị bắt quả tang, thu giữ 990,44 gam ma túy Methamphetamine. Quá trình điều tra, các bị cáo còn khai nhận: cuối tháng 6/2022 và giữa tháng 7/2022, bị cáo T và bị cáo T1 đã 02 lần mua ma túy của G, mỗi lần 100 gam, về phân chia ra bán cho người nghiện.

Do đó, Huỳnh Văn T và Phùng Thị Thanh T1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng ma túy là 1.190,44 gam Methamphetamine (bao gồm khối lượng ma túy đã bán 02 lần trước và khối lượng ma túy thu giữ khi bắt quả tang)

Tòa án cấp sơ thẩm quy kết các bị cáo Huỳnh Văn T và Phùng Thị Thanh T1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng ma túy các bị cáo mua bán, cụ thể:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Tái phạm nguy hiểm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ đó tuyên phạt mức án Tử hình cả hai bị cáo là tương xứng. Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt gì mới nên bác kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn T và Phùng Thị Thanh T1, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn T và bị cáo Phùng Thị Thanh T1; giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn T và bị cáo Phùng Thị Thanh T1 phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 4, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T: Tử hình.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/8/2022, tiếp tục tạm giam bị cáo Huỳnh Văn T để đảm bảo thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Phùng Thị Thanh T1: Tử hình.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/8/2022, tiếp tục tạm giam bị cáo Phùng Thị Thanh T1 để đảm bảo thi hành án.

Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo Huỳnh Văn T và bị cáo Phùng Thị Thanh T1 có quyền làm đơn xin Chủ tịch nước C2 ân giảm án Tử hình.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND Tp Hồ Chí Minh; (5)
  • - VKSND Tp Hồ Chí Minh; (1)
  • - Công an Tp Hồ Chí Minh; (1)
  • - Cục THA DS Tp Hồ Chí Minh; (1)
  • - TTG Công an tỉnh Tp Hồ Chí Minh; (1)
  • - “Để tống đạt cho bị cáo”; (2)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (3). VP 05, 21b. (TTPT).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Trí Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 815/2024/HS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 815/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn T và Phùng Thị Thanh T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn T và bị cáo Phùng Thị Thanh T; giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger