Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 814/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 14/8/2023

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Thái Thục Hiền
  2. Ông Đoàn Văn Rỹ

Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Vũ Đặng T, sinh năm: 1975
  2. Địa chỉ: 813/7 HS, Phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thụy Thùy D, sinh năm: 1984
  4. Địa chỉ: 2117A/17 PTH, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2022 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – ông Vũ Đặng T trình bày: Ông và bà Nguyễn Thụy Thùy D chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 9 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc. Do không thể tiếp tục chung sống nên cả hai đã không còn sống chung đến nay khoảng 6 năm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không hạnh phúc không thể tiếp tục cuộc sống chung nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thụy Thùy D.

Về con chung: Ông và bà D có 02 con chung tên Vũ Nguyễn Hồng A sinh ngày 18/9/2007 và Vũ Nguyễn Hồng Đ sinh ngày 27/10/2011. Do con chung chưa thành niên và đang sống cùng với bà D nên sau khi ly hôn ông T yêu cầu giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, ông cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000đồng (mỗi con 1.500.000đồng/tháng).

Về tài sản chung và nợ chung: Ông và bà D không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thụy Thùy D trình bày tại bản tự khai ngày 09/3/2023: Bà xác nhận bà và ông T chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông bà đã không sống chung đến nay khoảng 06 năm. Ông bà có hai con trai tên Vũ Nguyễn Hồng A sinh ngày 18/9/2007 và Vũ Nguyễn Hồng Đ sinh ngày 27/10/2011. Sau khi ly thân, bà đã về nhà cha mẹ ruột ở Quận 8 sống cùng với hai con trai. Nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì bà cũng đồng ý ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và ông T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (mỗi con 1.500.000đồng/tháng). Bà và ông T không có tài sản chung và không nợ ai.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bà D không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn - ông Vũ Đặng T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa

Bị đơn – bà Nguyễn Thụy Thùy D vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
  2. Ông Vũ Đặng T và bà Nguyễn Thụy Thùy D có đăng ký kết hôn, ông T yêu cầu ly hôn với bà D, xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn”.

    Hiện nay, bị đơn là bà Nguyễn Thụy Thùy D đang cư trú tại Quận 8 (Theo kết quả xác minh của Công an Phường 6, Quận 8) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

  3. Về thủ tục tố tụng:
  4. Nguyên đơn ông Vũ Đặng T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông T.

    Bị đơn bà Nguyễn Thụy Thùy D, Tòa án đã triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng bà D vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà D.

  5. Về yêu cầu của các đương sự:
    • Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Trích lục kết hôn số 556, ngày 14/9/2022 của Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, cùng lời khai của bà D và ông T về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa ông T và bà D là hôn nhân hợp pháp.

    Xét yêu cầu xin ly hôn của ông T: Trong quá trình chung sống, ông T và bà D xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về vấn đề tình cảm và nhiều vấn đề trong cuộc sống chung, không có sự cảm thông, chia sẻ với nhau. Hai bên đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn, tìm tiếng nói chung nhưng không đạt được kết quả mà tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn phát sinh từ rất lâu, không thể giải quyết nên đã sống ly thân đến nay khoảng 06 năm, ông T xác định vợ chồng không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với bà D.

    Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích trên cơ sở yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình, đồng thời vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Trong quá trình giải quyết, bà D cũng xác nhận vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm chăm sóc nhau và mâu thuẫn trầm trọng nên cả hai đã không còn sống chung một thời gian dài; mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập bà D đến Tòa để tham gia các phiên hòa giải để các bên có điều kiện hàn gắn đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà D không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án mà không có lý do chính đáng. Điều này cho thấy bà D đã từ bỏ quyền lợi của mình, không muốn hòa giải hàn gắn đoàn tụ gia đình. Do đó, việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

    • Về con chung: Ông T và bà D có 02 con chung tên Vũ Nguyễn Hồng A sinh ngày 18/9/2007 và Vũ Nguyễn Hồng Đ sinh ngày 27/10/2011. Do con chung chưa thành niên và đang sống cùng với bà D nên ông T đề nghị giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng; ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đồng (mỗi con 1.500.000đồng/tháng).

    Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng là căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Hơn nữa, bà D đồng ý với đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung cũng như nhận cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000đồng từ ông T. Do đó, việc giao hai trẻ Vũ Nguyễn Hồng A sinh ngày 18/9/2007 và Vũ Nguyễn Hồng Đ sinh ngày 27/10/2011 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, đảm bảo quyền lợi cho trẻ và phù hợp với quy định pháp luật tại khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông T và bà D có trình bày thống nhất về mức cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 3.000.000đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

    • Về tài sản chung và nợ chung: Ông T xác định trong thời gian chung sống ông và bà D không có tài sản chung và cũng không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: bao gồm án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng, tổng cộng án phí sơ thẩm là 600.000 đồng ông T phải chịu theo quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Đặng T về việc xin ly hôn với bà Nguyễn Thụy Thùy D.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Đặng T được ly hôn với bà Nguyễn Thụy Thùy D (Giấy chứng nhận kết hôn số 116/2006 ngày 09/8/2006 của Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh).

    Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thụy Thùy D trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Vũ Nguyễn Hồng A sinh ngày 18/9/2007 và Vũ Nguyễn Hồng Đ sinh ngày 27/10/2011. Ông T cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000đồng (mỗi con 1.500.000đồng/tháng). Thực hiện việc cấp dưỡng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các con thành niên. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thụy Thùy D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản.

    Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc Hội Liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện việc cấp dưỡng theo thỏa thuận nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định không có tài sản chung và không có nợ chung nên không xem xét.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm là 600.000đồng (gồm án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng) ông Vũ Đặng T phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002562 ngày 14/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T phải nộp thêm số tiền 300.000đồng.
  4. Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

  5. Về quyền kháng cáo: Ông Vũ Đặng T, bà Nguyễn Thụy Thùy D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND.TPHCM;
  • - VKSND Quận 8;
  • - Chi cục THADS Quận 8;
  • - UBND Phường 9, Quận 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Doãn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 814/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 814/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Tuấn yêu cầu ly hôn bà Dung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger