TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 814/2023/DS-PT Ngày: 04/12/2023 V/v “Tranh chấp QSDĐ; Hủy GCN QSDĐ” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hồng
Ông Nguyễn Đắc Minh
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Thiện, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 507/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp QSDĐ; Hủy GCN QSDĐ”.
1/ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980; Địa chỉ: số I, ấp Đ, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. (có mặt)
2/ Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1934 (chết ngày 26/12/2022);
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Đ:
2.1/ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1935. (Ủy quyền cho Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1977 tham gia tố tụng). (ông H có mặt)
2.2/ Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1977. (có mặt)
2.3/ Ông Huỳnh Thanh V, sinh năm 1972. (có mặt)
2.4/ Bà Huỳnh Kim N, sinh năm 1973. (có mặt)
Cùng địa chỉ: 3, đường N, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.
2.5/ Ông Huỳnh Thanh L, sinh năm 1975; Địa chỉ: D P, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Long An. (có mặt)
2.6/ Bà Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1964; Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An. (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thanh H2, địa chỉ: VPLS N, E P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1/ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1935; (Ủy quyền cho Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1977 tham gia tố tụng); Cùng địa chỉ: số C, đường N, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. (ông H có mặt)
3.2/ Bà Nguyễn Thị Viên L1, sinh năm 1983; Địa chỉ: số I, đường số F, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. (có mặt)
3.3/ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L; Địa chỉ: số A Quốc lộ A, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị Hải A - Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ2 tại thành phố T. (Theo văn bản ủy quyền số 7583/STNMT-VPĐKDD ngày 10/11/2022). (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, diện tích 767m², loại đất CLN tọa lạc tại phường F, thành phố T do mẹ của ông là bà Nguyễn Thị Đ1 tặng cho ông vào ngày 06/9/2017. Ngày 29/9/2017, ông được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 192. Từ trước đến nay gia đình ông vẫn thu hoạch lá dừa nước trên thửa đất này. Tuy nhiên, sau đó gia đình ông xây dựng nhà tường kiên cố, không còn khai thác lá dừa nước để sử dụng nữa.
Giáp ranh với thửa đất của ông là thửa đất số 02 (thửa cũ 105), tờ bản đồ số 10, diện tích 551m², loại đất ODT của ông Huỳnh Văn Đ. Trong quá trình sử dụng thửa đất số 02 đã lấn chiếm thửa đất số 192 của ông với diện tích đo thực tế là 132,2m².
Ông xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính tại thửa đất số 192, ông không cầm cố, thế chấp cho tổ chức cá nhân nào và không tranh chấp đối với các cây trồng trên đất. Ông xác định các cây dừa trên phần đất tranh chấp là do cha của ông đồng ý cho ông Đức t để chống sạt lở đất.
Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn Đ phải trả lại cho ông phần đất diện tích đo thực tế 132,2m² vị trí tại khu F thuộc một phần thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, loại đất CLN, tọa lạc tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 2094-2021 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T ký duyệt ngày 12/7/2021, không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Huỳnh Văn Đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T xác định rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khu G theo Mảnh trích đo địa chính số 2094-2021 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T ký duyệt ngày 12/7/2021.
Bị đơn ông Huỳnh Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B do ông Huỳnh Thanh H đại diện thống nhất trình bày: Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, diện tích đo thực tế 132.2m² tại phường F, thành phố T là do ông bà để lại cho cha của ông là ông Huỳnh Văn Đ. Ông Đ được Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/7/1997 đối với thửa đất số 105, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa số 2, tờ bản đồ số 10), diện tích 551m², loại đất ODT, đất tọa lạc tại phường F, thành phố T, tỉnh Long An. ông Đ có trồng cây trên phần đất này.
Nay ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn Đ phải trả lại phần đất tại vị trí khu F theo Mảnh trích đo địa chính số 2094-2021 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T ký duyệt ngày 12/7/2021, diện tích đo thực tế 132,2m², thuộc một phần thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, loại đất CLN, tọa lạc tại Phường F, thành phố T, ông Đ không đồng ý.
Đồng thời, ông Huỳnh Văn Đ có yêu cầu phản tố đề nghị hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 29/9/2017 đối với một phần thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, diện tích đo thực tế 132,2m², loại đất CLN, đất tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An và công nhận cho ông Đ quyền sử dụng diện tích đất đang tranh chấp này. Trong trường hợp yêu cầu khởi kiện của ông T được chấp nhận, ông Đ xác định không tranh chấp đối với các cây trồng trên đất, cũng không yêu cầu tính công sức giữ gìn, tôn tạo phần đất này.
Đối với phần diện tích 127,7m² được điều chỉnh giảm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 105 do ông Huỳnh Văn Đ đứng tên, ông xác định đây là sự nhầm lẫn trong gia đình ông, không ảnh hưởng đến diện tích đất đang sử dụng thực tế của thửa đất số 105 hiện nay. Do đó, ông đề nghị Tòa án tiếp tục sử dụng mảnh trích đo địa chính số 2094-2021 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T ký duyệt ngày 12/7/2021 để làm căn cứ giải quyết vụ án, ông cam kết không khiếu nại gì về sau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Huỳnh Văn Đ trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Nguyên đơn cho rằng được mẹ tặng cho phần đất đang tranh chấp, thuộc thửa đất số 192 có diện tích 767m², là loại đất trồng cây lâu năm. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh cho quá trình sử dụng đất của mình. Trong khi đó, phía bị đơn đã cung cấp cho Tòa án các lời khai của những người làm chứng, sinh sống lâu năm tại địa phương đều xác nhận phần đất đang tranh chấp do gia đình ông Đ quản lý, sử dụng từ trước đến nay. Tuy các lời khai của người làm chứng chưa được chính quyền địa phương xác nhận chữ ký nhưng phía bị đơn cam đoan lời trình bày này là hoàn toàn đúng sự thật. Bên cạnh đó, ông Đ là người đi kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước cả ông V1 là cha ruột của ông T, ranh giới đã được các bên thống nhất sử dụng ổn định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L có ý kiến tại Công văn số 7768/STNMT-VPĐKDÐ ngày 16/11/2022 như sau: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L đã ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 29/9/2017 cho ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10 tại phường F, thành phố T là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Đề nghị, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Bà Nguyễn Thị Viên L1 trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng hợp pháp, bà thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ông T, đề nghị Tòa giải quyết vụ án vắng mặt bà.
Ông Huỳnh Thanh L trình bày: ông là con ruột của ông Huỳnh Văn Đ với bà Nguyễn Thị B. Khoảng năm 1980, cha mẹ của ông có mua một phần đất có diện tích khoảng 127,7m² của bà Nguyễn Thị M ở cùng xóm, tuy nhiên phần diện tích đất này chưa được nhập vào chung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 105. Sau khi ông đi làm ăn xa về thì có xin cha mẹ của ông phần đất nhận chuyển nhượng của bà M để làm vốn làm ăn. Cha mẹ của ông đồng ý nên ông đã đi làm thủ tục kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do ông không sinh sống cùng với cha mẹ nên ông đã nhầm tưởng diện tích đất nhận chuyển nhượng của bà M đã được cha mẹ của ông nhập chung vào giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 105, nên ông đã đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 105 đi làm thủ tục kê khai giảm diện tích để cấp giấy. Hiện nay, ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất 127,7m² tại thửa đất số 2318, tờ bản đồ số 2, tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. Thửa đất số 2318 do ông đứng tên hoàn toàn không liên quan đến thửa đất số 105. Do đó, ông xác định không tranh chấp và không có yêu cầu gì đối với thửa đất số 105 của ông Huỳnh Văn Đ. Ông đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Các ông bà Huỳnh Ngọc H1, bà Huỳnh Kim N, ông Huỳnh Thanh V là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Huỳnh Văn Đ đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt mà không có ý kiến trình bày gửi đến Tòa án.
Các đương sự thống nhất sử dụng Mảnh trích đo địa chính số 2094-2021 do Công ty TNHH Đ3 vẽ ngày 26/4/2021, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T ký duyệt ngày 12/7/2021, Mảnh trích đo phân khu ngày 27/10/2021 của Công ty TNHH Đ4; thống nhất kết quả định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 2021083.IVC-CT do Công ty cổ phần Đ5 và Thẩm định giá Hội Nhập lập ngày 17/11/2021 để làm căn cứ giải quyết vụ án, không yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Về công sức giữ gìn, tôn tạo phần đất tranh chấp: Các bên đương sự thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét.
Về các cây trồng trên đất tranh chấp: Các đương sự thống nhất không tranh chấp đối với các cây trồng trên phần đất tranh chấp, không yêu cầu định giá đối với các cây trồng này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 16/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 39, Điều 92, Điều 95, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 166, Điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Huỳnh Văn Đ có người kế thừa quyền và nghĩa vụ gồm các ông bà Nguyễn Thị B, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Thanh H, Huỳnh Thanh L, Huỳnh Kim N và Huỳnh Ngọc H1 đối với phần đất tại khu G, diện tích đất đo thực tế 1,7m² tọa lạc tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. Vị trí, tứ cận khu đất theo Mảnh trích đo địa chính số 2094-2021 do Công ty TNHH Đ3 vẽ ngày 26/4/2021, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T phê duyệt ngày 12/7/2021 và Mảnh trích đo phân khu ngày 27/10/2021 của Công ty TNHH Đ4.
2/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Huỳnh Văn Đ có người kế thừa quyền và nghĩa vụ gồm các ông bà Nguyễn Thị B, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Thanh H, Huỳnh Thanh L, Huỳnh Kim N và Huỳnh Ngọc H1.
2.1/ Buộc ông Huỳnh Văn Đ có người kế thừa quyền và nghĩa vụ gồm các ông bà: Nguyễn Thị B, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Thanh H, Huỳnh Thanh L, Huỳnh Kim N và Huỳnh Ngọc H1 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn T một phần thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, diện tích đo thực tế 132,2m², loại đất CLN, đất tọa lạc tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.
2.2/ Ông Nguyễn Văn T được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất đo thực tế là 132,2m² tại khu F, thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, loại đất CLN, đất tọa lạc tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An cùng toàn bộ cây trồng trên đất.
2.3/ Vị trí, tứ cận đất tại khu F theo Mảnh trích đo địa chính số 2094-2021 do Công ty TNHH Đ3 vẽ ngày 26/4/2021, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T ký duyệt ngày 12/7/2021 và Mảnh phân khu ngày 27/10/2021 của Công ty TNHH Đ4.
3/ Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Huỳnh Văn Đ có người kế thừa quyền và nghĩa vụ gồm các ông bà Nguyễn Thị B, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Thanh H, Huỳnh Thanh L, Huỳnh Kim N và Huỳnh Ngọc H1 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 646736, số vào sổ cấp GCN: CS 08558 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 29/9/2017 đối với thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, loại đất CLN, đất tọa lạc tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Huỳnh Thanh H là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn Đ, đồng thời ông H là người đại diện cho bà Nguyễn Thị B (là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn Đ) kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm, xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc đòi lại 132,2m² đất mà theo ông H, bà B cho rằng phần đất trên là của cha của ông Đ cho lại ông Đ. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H vẫn giữ theo yêu cầu kháng cáo như trên.
- Về phía nguyên đơn ông Nguyễn Văn T không có kháng cáo, tại tòa thì ông T đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.
- Người bảo vệ quyền lợi cho ông H thì cho rằng trước đây ông L (cha của ông Đ) có kê khai đăng ký và ông L đã được UBND cấp giấy tạm, sau đó thì được cấp lại vào năm 1997 diện tích 551m², so với bản đồ đo vẽ xác định các điểm E; F; G, H không rõ ai sử dụng, nếu cộng lại diện tích thì bằng 782,5m² chứ không phải bằng 767m²; Giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông Đ trước năm 1993 so với GCN QSDĐ cấp năm 1997 là không đúng, nên đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông H.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng án sơ thẩm xử như trên là đúng, nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của ông Huỳnh Thanh H được làm và nộp trong thời hạn luật định nên đây là kháng cáo hợp lệ.
[2] Xét về nội dung vụ án thì thấy:
- Theo đơn khởi kiện, ông Nguyễn Văn T cho rằng nguồn gốc thửa đất 192 tờ bản đồ số 10, diện tích 767m² loại đất CLN, tọa lạc tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, là của mẹ ông (bà Nguyễn Thị Đ1) tặng cho lại ông vào ngày 06/9/2017. Đến ngày 29/9/2017 thì ông được Sở TNMT tỉnh L cấp GCN QSDĐ; Phần đất giáp ranh là thửa đất số 02 (thửa cũ 105) tờ bản đồ số 10, diện tích 551m², loại đất ODT của ông Huỳnh Văn Đ. Trong quá trình sử dụng, ông Đ lấn qua thửa 192 của ông diện tích 132,2m², nên ông khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn Đ (các thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ) phải trả lại 132,2m² đất nêu trên cho ông. (Theo đo đạc lại, khu F thuộc thửa 192, tờ bản đồ số 10, loại đất CLN, theo bản trích đo địa chính số 2094-2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ2 phê duyệt ngày 12/7/2021).
- Về phía bị đơn ông Huỳnh Văn Đ (khi còn sống), cũng như các thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ cho rằng phần đất 132,2m² đất tranh chấp tại thửa số 192 tờ bản đồ số 10 là của cha của ông Đ cho ông Đ, nên không đồng ý giao trả phần đất trên cho ông T. Ông Đ (khi còn sống), cũng như các thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ có yêu cầu phản tố yêu cầu hủy GCN QSDĐ mà Sở TNMT tỉnh L cấp cho ông T diện tích 132,2m² tại thửa số 192 nêu trên. (Về cây trồng cũng như tính công sức tôn tạo trên đất thì không có tranh chấp).
- Căn cứ vào công văn số 7768/STN-MT-VPĐKĐĐ tỉnh Long An ngày 16/11/2022 của Sở TNMT tỉnh L thể hiện: ngày 17/5/2007, ông Nguyễn Văn V2 là cha của ông Nguyễn Văn T được UBND cấp GCN QSDĐ thửa 2279 tờ bản đồ số 02 (nay là thửa 192 tờ bản đồ số 10) diện tích 767m² loại đất CLN, tại Phường E, thành phố T, tỉnh Long An, việc đo đạc, ký giáp ranh, mốc giới vào ngày 18/5/2004 ông Huỳnh Văn Đ cũng có ký giáp ranh thửa 2279 (nay là thửa 192). Ngày 12/3/2014 ông Nguyễn Văn V2 chết, vợ ông V2 là bà Nguyễn Thị Đ1 được UBND thành phố T cấp GCN QSDĐ ngày 26/8/2015 đối với thửa đất 192 nêu trên căn cứ vào biên bản phân chia đất ngày 20/5/2015. Ngày 29/9/2017, ông Nguyễn Văn T được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10 (thửa cũ 2279, tờ bản đồ số 2), diện tích 767m², loại đất CLN tại Phường F, thành phố T dựa trên Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 06/9/2017 giữa bà Đ1 với ông T.
- Tại công văn số 1370/CN-VPĐKĐĐ-LT ngày 05/5/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ2 thể hiện: ông Huỳnh Văn Đ được UBND thành phố T cấp GCN QSDĐ vào ngày 28/7/1997 đối với thửa đất 105 tờ bản đồ số 2 (nay là thửa số 2 tờ bản đồ số 10), diện tích 551m² tại xã L (nay là Phường F, thành phố T) là cấp lần đầu, không tiến hành đo đạc thực tế. Thửa 105 hiện nay ông Đ đang quản lý, sử dụng tiếp giáp với phần đất đang tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 192 nêu trên, ngoài ra hiện nay ông Đ không còn phần đất nào khác.
- Phần đất tranh chấp 132,2m² thuộc thửa 192 tờ bản đồ số 10. Ông Huỳnh Văn Đ không có đăng ký QSDĐ đối với phần đất này.
- Căn cứ vào mảnh trích đo địa chính số 2094-2021 do Công ty TNHH Đ3 vẽ ngày 26/4/2021, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T ký duyệt ngày 12/7/2021 thì phần đất tại khu F có diện tích đo đạc thực tế là 132,2m² thuộc thửa số 192 tờ bản đồ số 10, loại đất CLN được Sở TNMT tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Văn T, nên án sơ thẩm xử công nhận phần đất trên là của ông T, buộc phía bị đơn (các thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ) phải giao trả lại phần đất trên cho ông T, là có căn cứ.
- Ông Huỳnh Thanh H là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn Đ, đồng thời ông H là người đại diện cho bà Nguyễn Thị B (là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn Đ) kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, nhưng ông H và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông H không đưa ra được chứng cứ nào khác ngoài nhận định trên, nên kháng cáo không được chấp nhận.
- Chấp nhận theo quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Thanh H là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn Đ, đồng thời ông H là người đại diện cho bà Nguyễn Thị B (là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn Đ) kháng cáo.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.
[2] Áp dụng các Điều 26, 34, 37, 39, 92, 95, 147, 157, 158, 165, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 166, 189 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 100, 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Huỳnh Văn Đ có người kế thừa quyền và nghĩa vụ gồm các ông bà: Nguyễn Thị B, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Thanh H, Huỳnh Thanh L, Huỳnh Kim N và Huỳnh Ngọc H1.
1.1/ Buộc ông Huỳnh Văn Đ có người kế thừa quyền và nghĩa vụ gồm các ông bà: Nguyễn Thị B, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Thanh H, Huỳnh Thanh L, Huỳnh Kim N và Huỳnh Ngọc H1 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn T một phần thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, diện tích đo thực tế 132,2m², loại đất CLN, đất tọa lạc tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Văn T được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất đo thực tế là 132,2m² tại khu F, thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, loại đất CLN, đất tọa lạc tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An cùng toàn bộ cây trồng trên đất.
Vị trí, tứ cận đất tại khu F theo Mảnh trích đo địa chính số 2094-2021 do Công ty TNHH Đ3 vẽ ngày 26/4/2021, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T ký duyệt ngày 12/7/2021 và Mảnh phân khu ngày 27/10/2021 của Công ty TNHH Đ4.
2/ Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Huỳnh Văn Đ có người kế thừa quyền và nghĩa vụ gồm các ông bà: Nguyễn Thị B, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Thanh H, Huỳnh Thanh L, Huỳnh Kim N và Huỳnh Ngọc H1 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 646736, số vào sổ cấp GCN: CS 08558 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Văn T ngày 29/9/2017 đối với thửa đất số 192, tờ bản đồ số 10, loại đất CLN, đất tọa lạc tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An;
[3] - Việc án sơ thẩm xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Huỳnh Văn Đ có người kế thừa quyền và nghĩa vụ gồm các ông bà: Nguyễn Thị B, Huỳnh Thanh V, Huỳnh Thanh H, Huỳnh Thanh L, Huỳnh Kim N và Huỳnh Ngọc H1 đối với phần đất tại khu G, diện tích đất đo thực tế 1,7m² tọa lạc tại Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. Vị trí, tứ cận khu đất theo Mảnh trích đo địa chính số 2094-2021 do Công ty TNHH Đ3 vẽ ngày 26/4/2021, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T phê duyệt ngày 12/7/2021 và Mảnh trích đo phân khu ngày 27/10/2021 của Công ty TNHH Đ4; Cũng như các quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm đã xét xử không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Ông Huỳnh Thanh H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ngày 03/7/2023, ông Huỳnh Thanh H đã nộp số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0003762 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An, số tiền này được chuyển qua thi hành phần án phí phải nộp.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 04/12/2023.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Chánh Trung |
Bản án số 814/2023/DS-PT ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp qsdđ; hủy gcn qsdđ
- Số bản án: 814/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSDĐ; Hủy GCN QSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
