|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án: số 814/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2025 V/v: Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thảo
- Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Phạm Bá Chương;
2- Ông Nguyễn Nam Thắng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1336/2025/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2195/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 2904/2025/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trí D - sinh năm 1992
CCCD: [...] cấp ngày 03/7/2021
Địa chỉ: số C L, phường B, quận B, (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Bị đơn: Bà Phạm Uyên P– sinh năm 1992
CMND: [...] cấp ngày 27/6/2009
Địa chỉ: 1 Đường A, khu phố B, phường B, thành phố T, (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/5/2025, bản tự khai và tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ông Nguyễn Trí D trình bày: giữa ông và bị đơn bà Phạm Uyên P sống chung với nhau từ năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi kết hôn, ông bà sống chung với nhau hạnh phúc được một thời gian thì hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường tranh cãi với nhau mà không tìm được tiếng nói chung, đôi bên không tin tưởng nhau dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc. Đến tháng 7 năm 2022 đôi bên ly thân cho đến nay. Nay ông không còn tình cảm gì với bà P nên ông yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc T sinh ngày 27/11/2021 và Nguyễn Ngọc T1 sinh ngày 07/01/2023 khi ly hôn ông D nhường quyền nuôi 02 con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Ông D sẽ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 8.000.000 đồng (mỗi con chung 4.000.000 đồng/tháng ) cho đến khi 02 con chung lần lượt đủ 18 tuổi;
Tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Bà Phạm Uyên P không có lời khai và cũng không nộp tài liệu chứng cứ gì.
Tại phiên tòa:
Ông Nguyễn Trí D có đơn xin vắng mặt; bà Phạm Uyên P vắng mặt suốt quá trình tố tụng vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 -Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến xác định việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Uyên P và ông Nguyễn Trí D sống chung với nhau năm 2020, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận T (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 15/2020, ngày 22/2/2020. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Căn cứ phiếu xác minh ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 -Thành phố Hồ Chí Minh, Công an phường T phúc đáp: bà Phạm Uyên P - sinh năm 1992 có thực tế cư trú tại số A Đường A, phường B, (nay là phường T),Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 51 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
[2] Xét yêu cầu của ông D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân giữa ông D và bà P sống chung hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường tranh cãi với nhau mà không tìm được tiếng nói chung, đôi bên không tin tưởng nhau dẫn đến sống chung không hạnh phúc nên hai bên đã sống ly thân nhau từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên cũng không thể hòa giải mâu thuẫn để về sống chung với nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy suốt quá trình tố tụng Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho bà P nhưng bà vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy bà P không quan tâm đến việc hòa giải để đoàn tụ gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét thấy hôn nhân giữa ông D và bà P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Trí D được ly hôn với bà Phạm Uyên P.
[3] Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Ngọc T sinh ngày 27/11/2021 và Nguyễn Ngọc T1 sinh ngày 07/01/2023. Bà Phạm Uyên P không có ý kiến trong quá trình tố tụng. Hội đồng xét xử xét con chung hiện nay đang sống chung với bà Phạm Uyên P, bà P đảm bảo được các điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung từ khi ông D và bà P sống ly thân cho đến nay và xét theo nguyện vọng của ông D đồng ý giao quyền nuôi dưỡng con chung cho bà P, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: ông Nguyễn Trí D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 8.000.000 đồng (mỗi con chung 4.000.000 đồng/tháng ) cho đến khi 02 con chung lần lượt đủ 18 tuổi;
[4] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng, ông Nguyễn Trí D phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm a, b khoản 1 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Trí D :
Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Trí D được ly hôn với bà Phạm Uyên P .
Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Ngọc T sinh ngày 27/11/2021 và Nguyễn Ngọc T1 sinh ngày 07/01/2023. Giao hai con chung cho bà Phạm Uyên P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Trí D cấp dưỡng nuôi hai con chung 8.000.000 đồng/tháng (mỗi con chung 4.000.000 đồng/tháng) cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Phạm Uyên P, nếu ông Nguyễn Trí D chưa thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), ông Nguyễn Trí D phải chịu. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, ông Nguyễn Trí D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000127 ngày 26/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức (nay là Phòng thi hành án khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh). Ông Nguyễn Trí D còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
3/ Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều7a (áp dụng Điều 7b nếu có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); Điều 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Thu Thảo |
Bản án số 814/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 814/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trí D- Phạm Uyên B- Ly hôn
