Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 813/2024/DS-PT

Ngày 23-9-2024

V/v Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho mượn, yêu cầu công nhận quyền sử đất và yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Văn Mười
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
Ông Ngô Đức Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 227/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho mượn, yêu cầu công nhận quyền sử đất và yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2863/2024/QĐ-PT ngày 05/9/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1938 (vắng mặt);
  2. Địa chỉ: Số C, ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm 1972;

    Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T, ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L, bà Dương Thị M: Ông Giã Hoàng N và ông Võ Vương Khánh T1 là Luật sư của Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

  3. Bị đơn: Ông Dương Văn L1, sinh năm 1954 (có mặt);
  4. Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1963 (vắng mặt);
    2. Ông Dương Thành H, sinh năm 1966 (vắng mặt);
    3. Ông Dương Văn L, sinh năm 1970 (có mặt);
    4. Ông Dương Văn T, sinh năm 1972 (có mặt);
    5. Người đại diện hợp pháp của ông Đ, ông H và ông L: Ông Dương Văn T, sinh năm 1972; Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (có mặt).

    6. Ông Dương Quốc T2, sinh năm 1968 (vắng mặt);
    7. Bà Dương Thị H1, sinh năm 1969 (vắng mặt);
    8. Người đại diện hợp pháp của ông T2 và bà H1: Ông Dương Văn L1, sinh năm 1954; Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (có mặt).

    9. Bà Dương Thị M, sinh năm 1980 (vắng mặt);
    10. Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

    11. Ông Dương Văn Đ1, sinh năm 1969 (vắng mặt);
    12. Địa chỉ: Ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

      Người đại diện hợp pháp của bà M và ông Đ1: Ông Dương Văn T, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (có mặt).

    13. Bà Dương Thị H2, sinh năm 1972 (vắng mặt);
    14. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

    15. Bà Lê Thị Á, sinh năm 1958 (vắng mặt);
    16. Địa chỉ: Số G H, R, CA, Hoa Kỳ.

    17. Ông Nguyễn Thanh T3 (vắng mặt);
    18. Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1954 (vắng mặt);
    19. Ông Nguyễn Văn N2 (vắng mặt);
    20. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

    21. Bà Lưu Thị Y, sinh năm 1954 (vắng mặt);
    22. Ông Lưu Thiện D (vắng mặt);
    23. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

    24. Bà Nguyễn Thị D1 (vắng mặt);
    25. Bà Lê Thị Thúy N3 (vắng mặt);
    26. Bà Cao Thị B (vắng mặt);
    27. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

    28. Ông Dương Công Q, sinh năm 1980 (vắng mặt);
    29. Bà Trương Thị Thảo T4, sinh năm 1989 (vắng mặt);
    30. Cùng địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

      Người đại diện của ông Q và bà T4: Ông Dương Văn L1, sinh năm 1954; Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (có mặt).

    31. Bà Tạ Thị Ngọc H3, sinh năm 1976 (vắng mặt);
    32. Anh Dương Bảo H4, sinh năm 1997 (vắng mặt);
    33. Chị Dương Ngọc H5, sinh năm 2006 (vắng mặt);
    34. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

    35. Bà Huỳnh Thị Hồng M1, sinh năm 1972 (vắng mặt);
    36. Anh Dương Huỳnh Phương L2, sinh năm 2000 (vắng mặt);
    37. Cùng địa chỉ: Số C, ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

  6. Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Văn T, ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L, bà Dương Thị M có ông Dương Văn T là người đại diện theo ủy quyền.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 04/6/2019 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G và trong quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của bà G là ông Dương Văn T trình bày:

Bà Nguyễn Thị G và ông Dương Văn D2 chung sống với nhau có tất cả 09 người con gồm: Ông Dương Văn L1, ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Quốc T2, bà Dương Thị H1, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L, ông Dương Văn T, bà Dương Thị M.

Vào năm 1984, được Nhà nước cấp cho phần đất trồng cây lâu năm, có diện tích là 761,7m², thửa đất số 18, tờ bản đồ số 78, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 471678, do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 22/12/2014 (đất được chỉnh lý lại sau khi giải tỏa làm Quốc lộ I).

Vào năm 2010, sau khi chồng của bà chết, bà G có cho con trai là Dương Văn L1 mượn một phần đất gần bến đò làm nơi mua bán kinh doanh với diện tích ngang 8m x dài 23m, việc cho mượn không có làm giấy tờ vì tình nghĩa mẹ con. Nay bà G không đồng ý cho ông L1 sử dụng phần đất này nữa.

Nay bà G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông L1 trả lại cho bà phần đất có diện tích (ngang 08m x dài 23m) nằm trong thửa đất số 18, tờ bản đồ số 78, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Bà đồng ý trả lại tiền công sức tu bổ trên phần diện tích đất cho ông L1.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T là người đại diện theo ủy quyền của bà G cho rằng thửa đất số 56, tờ bản đồ số 03 là do cha mẹ ông tạo lập trước năm 1954 (Điền chủ tặng cho); còn thửa đất số 59, tờ bản đồ số 03 do Nhà nước thực hiện chính sách trang trãi đất đai vào năm 1984 cấp cho những người có tên trong sổ hộ khẩu gia đình của bà G, lúc đó không có tên ông D2 và ông L1 trong sổ hộ khẩu gia đình. Bà G chuyển nhượng đất cho ông D, bà Y số tiền 530.000.000 đồng và chuyển nhượng đất cho ông N1 số tiền 440.000.000 đồng, tiền này do bà G quản lý. Nay ông xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là bà G đồng ý ổn định cho ông L1 phần đất có diện tích 40m² nằm giáp với ông N1 và không yêu cầu ông L1 trả giá trị đất; phần đất còn lại yêu cầu ông L1 trả cho bà G có diện tích 210,7m², bà G sẽ trả giá trị nhà và tài sản trên đất cho ông L1 theo giá đã định; bà G không đồng ý với yêu cầu chia tài sản chung và chia thừa kế tài sản của ông L1. Các phần đất chuyển nhượng cho ông N2, ông N1 và ông D, bà Y đều chưa được tách giấy chứng nhận QSDĐ.

Theo Đơn phản tố (khởi kiện) đề ngày 04/7/2019 và ngày 29/7/2019, ông Dương Văn L1 trình bày:

Cha mẹ của ông là ông Dương Văn D2 (chết ngày 14/02/2009) và bà Nguyễn Thị G chung sống với nhau có tất cả 09 người con gồm: Ông Dương Văn L1, ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Quốc T2, bà Dương Thị H1, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L, ông Dương Văn T, bà Dương Thị M. Ngoài ra, cha mẹ của ông không có con riêng hay con nuôi.

Trong quá trình chung sống thì cha mẹ của ông có tạo lập được căn nhà cấp 4, gắn liền trên diện tích đất khoảng 500m², đồng thời gia đình ông đã được Nhà nước cắt chia cho diện tích đất ruộng 3.000m² khi thực hiện chính sách trang trãi đất đai vào năm 1984, cụ thể như sau:

Nguồn gốc của thửa đất số 18, tờ bản đồ số 78, diện tích sử dụng 761,7m², loại đất trồng cây lâu năm mà Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 471678 cho hộ bà G vào ngày 22/12/2014 là một phần của thửa đất cũ số 59, tờ bản đồ số 03, diện tích 3.000m², loại đất mùa (trồng lúa), tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng là do Nhà nước thực hiện chính sách trang trãi đất đai cấp cho hộ gia đình ông vào năm 1984 để có đất canh tác, sản xuất, chứ hoàn toàn không phải là do cha mẹ của ông tạo lập ra. Vì vậy, diện tích đất 761,7m², tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 78 này và diện tích khoảng 150m² mà hiện nay ông Dương Văn T đang quản lý, sử dụng (phần đất của ông T nằm đối diện thửa đất số 18 qua huyện lộ 3) đều thuộc quyền quản lý chung của cha, mẹ và tất cả các anh, chị, em của ông, chứ không phải là quyền sử dụng riêng của bà G.

Khi Nhà nước giải phóng mặt bằng làm tuyến Quốc lộ I (N) thì toàn bộ tiền bồi thường do Nhà nước thu hồi đất đều do mẹ của ông là bà G nhận rồi sử dụng riêng cá nhân. Mặt khác, sau khi giải phóng mặt bằng xong thì bà G lại tự ý sang bán diện tích đất hơn 500m², thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 78 này cho 02 người để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực tế, bà G chỉ là người đại diện đứng tên quyền sử dụng đất tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 78, chứ bà G hoàn toàn không có quyền gì trong phần diện tích đất còn lại này.

Thửa đất số 56, tờ bản đồ số 03, diện tích đất 568m², loại đất ONT = 300m² và LNK=268m², cùng căn nhà trệt cấp 4 gắn liền trên thửa đất này, nhà và đất tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng là do cha, mẹ ông cùng tạo lập ra từ trước tiếp thu để gia đình sinh sống.

Cha của ông chưa nhận bất cứ một diện tích đất nào hoặc một số tiền nào từ việc bồi thường do Nhà nước thu hồi đất để mở tuyến Quốc lộ I cũng như phần tiền do bà G tự ý sang bán thuộc thửa đất cũ số 59, tờ bản đồ số 03 (nay còn lại một phần là thửa số 18, tờ bản đồ số 78). Vì vậy, diện tích đất còn lại hiện nay bà G không còn quyền sử dụng đất nữa.

Vào năm 2007, cha mẹ của ông là ông D2 và bà G thấy hoàn cảnh gia đình ông khó khăn nên mới thống nhất cắt chia cho ông một phần diện tích đất khoảng 200m² nằm trong thửa đất số 18, tờ bản đồ số 78 hiện nay để vợ chồng và các con của ông cất nhà ở, buôn bán làm ăn. Do đó, ông đề nghị bác yêu cầu khởi kiện đòi đất của bà G.

Nay ông Dương Văn L1 yêu cầu Tòa án giải quyết:

Công nhận quyền sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 250,7m², thuộc một phần thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78, tọa lạc lại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông.

Chia thừa kế toàn bộ quyền sử dụng đất của ông D2 chết để lại trong thửa đất cũ số 56 (thửa mới số 32), tờ bản đồ số 03 (tờ mới số 74) và căn nhà gắn liền với đất, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cho tất cả các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật; ông được nhận 03 kỷ phần (kỷ phần thừa kế của ông và kỷ phần thừa kế của ông T2, bà H1 tặng cho ông).

Chia tài sản chung là phần diện tích đất mà bản thân ông được hưởng khi Nhà nước thực hiện chính sách trang trãi chia đất cho gia đình ông vào năm 1984, với diện tích 3.000m², thuộc thửa đất cũ số 59, tờ bản đồ số 03 (kể cả phần tiền do Nhà nước bồi thường và tiền do bà G chuyển nhượng đất) và ông được nhận 03 phần (phần của ông và phần của ông T2, bà H1 tặng cho ông) và chia thừa kế phần của cha ông là ông D2. Đồng thời, ông yêu cầu được nhận hiện vật là toàn bộ phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 250,7m², thuộc một phần thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78 nêu trên mà ông đã được cha, mẹ cắt chia cho vào năm 2007, để vợ chồng và các con ông ổn định chỗ ở.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L1 cho rằng cha ông về ấp C, xã T, huyện T vào năm 1990 và ông về bên vợ ở xã N, huyện K vào năm 1995. Nay ông xin rút lại một phần yêu cầu phản tố đối với yêu cầu chia giá trị nhà bà G đang ở, không yêu cầu chia giá trị cây trồng trên thửa đất cũ số 56, tờ bản đồ số 03 và ông xin rút lại một phần yêu cầu phản tố đối với yêu cầu công nhận phần đất ông đang ở có diện tích 250,7m² và ông vẫn giữ nguyên yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản theo pháp luật đối với thửa đất cũ số 56 (thửa mới 32), tờ bản đồ cũ số 03 (số mới tờ 74) và phần đất tại thửa đất cũ số 59, tờ bản đồ số 03; nay tách thành 02 thửa là thửa đất số 09, tờ bản đồ số 48 và thửa đất số 18, tờ bản đồ số 78 (kể cả tiền do Nhà nước bồi thường, tiền bà G chuyển nhượng đất cho ông N1 và cho bà Y, ông D) và ổn định nhà, đất cho ông. Do ông yêu cầu được ổn định phần đất ông đang ở, nên ông không yêu cầu bà G trả tiền bồi đắp nền nhà.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 05/11/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T trình bày:

Khi Nhà nước trang trãi đất đai năm 1983 - 1984, ông không biết khi Nhà nước tính lao động chính, lao động phụ là bao nhiêu m² Thời điểm này hộ bà G, lao động chính gồm: Bà Nguyễn Thị G, ông Dương Văn Đ, Dương Thành H, Dương Quốc T2, Dương Thị H1, Dương Văn Đ1; lao động phụ gồm: Dương Văn L, Dương Văn T, Dương Thị M. Khi trang trãi Nhà nước cấp đất cho hộ bà G chỉ duy nhất thửa 59, diện tích 3.000m² (đất mùa), còn thửa 453, diện tích 2.600m² (đất mùa) là do cha mẹ bà G cho bà G (cho sau khi Nhà nước trang trãi, nhưng không nhớ năm nào), còn thửa 56, diện tích 568m² (đất T) là đất gốc của Điền chủ cho bà G và ông Dương Văn D2 sử dụng từ trước năm 1954 để cất nhà ở. Bà G đăng ký và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ bà G vào ngày 23/5/1994. Ngoài thửa đất số 56, 59, 453 theo Giấy chứng nhận cấp cho hộ bà G vào ngày 23/5/1994, thì hộ bà G không còn được cấp thửa đất nào khác. Khi trang trãi là không có quyết định cấp đất, khi đó không có ông D2 và ông L1, vì năm 1980 ông D2 đi theo vợ bé và ông L1 sống bên vợ ở xã N.

Khi Nhà nước xây dựng Quốc lộ I thì thu hồi của hộ bà G diện tích 1.526,4m² là thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 03 (bà G không có thửa đất số 17 và 22, tờ bản đồ số 05). Số tiền Nhà nước bồi thường khi xây dựng Quốc lộ I là 28.575.800 đồng, do bà G nhận và quản lý, sử dụng.

Sau khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng Quốc lộ I, thì phần đất còn lại của thửa đất số 59, tờ bản đồ số 03 được cấp đổi thành 02 thửa là thửa đất số 09, tờ bản đồ số 48 và thửa đất số 18, tờ bản đồ số 78 đều do hộ bà G đứng tên Giấy chứng nhận QSDĐ.

Thửa đất số 18, tờ bản đồ số 78, bà G chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn N1 vào năm 2015, ngang cặp 20m, dài hết đất khoảng 10m, số tiền bao nhiêu không nhớ và chuyển nhượng cho Lưu Thiện D và vợ là bà Lưu Thị Y vào năm 2015, ngang cặp 21,2m, dài hết đất khoảng 10m, với giá 530.000.000 đồng, phần đất còn lại do ông L1 cất nhà ở.

Thửa đất số 09, tờ bản đồ số 48 bà G cho ông vào năm 2015 và cất nhà ở cho đến nay, cho không có làm giấy tờ, trong nhà ông có vợ tên Tạ Thị Ngọc H3, sinh năm 1976, con tên Dương Bảo H4, sinh năm 1997, con tên Dương Ngọc H5, sinh 2006.

Căn nhà bà G đang ở trên thửa đất số 56, tờ bản đồ số 03, trước đó do bà G và ông D2 cất ở, sau này anh em ông cất lại toàn bộ cho bà G ở vào năm 2016; trong nhà bà G có vợ ông L tên Huỳnh Thị Hồng M1, sinh năm 1972, con ông L tên Dương Huỳnh Phương L2, sinh năm 2000.

Bà G cho ông một phần thửa đất số 56, tờ bản đồ số 03 diện tích chiều ngang giáp lộ bê tông là 03m (theo đo đạc thực tế là 04m), chiều ngang sau 04m, chiều dài 17,57m, cho ông cất nhà ở vào năm 1997, không có làm giấy tờ. Năm 2014, ông chuyển nhượng cho vợ chồng ông N2 nhà và đất vừa nêu, ông N2 cho con tên Nguyễn Thanh T3 ở (con của ông N2), số tiền chuyển nhượng là 150.000.000 đồng, ông sử dụng 100.000.000 đồng (tiền chuyển nhượng nhà), bà G sử dụng 50.000.000 đồng (tiền chuyển nhượng đất).

Tại Đơn xác nhận ngày 02/7/2019 và ngày 08/8/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Quốc T2 và bà Dương Thị H1 trình bày:

Trước tiếp thu năm 1975, cha ông, bà tên Dương Văn D2 (chết năm 2009) và bà Nguyễn Thị G chỉ có một phần đất khoảng 500m² để cất nhà ở, hiện nay nhà do bà G đang quản lý, sử dụng.

Vào năm 1984, gia đình ông, bà được Nhà nước trang trãi chia cho một thửa đất ruộng khoảng hơn 2.000m², khi Nhà nước mở tuyến Quốc lộ I (Lộ Nam Sông Hậu) đi ngang qua thửa đất ruộng này thì Nhà nước thu hồi hơn 1.000m². Do vậy, vào năm 2007 thấy hoàn cảnh gia đình ông L1 không có nhà ở, phải ở đậu bên gia đình bên vợ và cuộc sống gặp nhiều khó khăn nên cha mẹ ông, bà đã cắt chia cho ông L1 một phần đất cất nhà ở, buôn bán kiếm sống (hiện nay là thửa 18, tờ bản đồ số 78), khi cắt chia đất cho ông L1 thì tất cả anh, chị, em trong gia đình đều biết và không ai phản đối, thực tế cha mẹ cắt chia cho ông L1 theo cổ phần mà ông L1 được hưởng; ông L1 không đứng ra mượn của cha mẹ phần đất hiện nay bà G tranh chấp đòi lại, nên bà G đòi lại đất là không đúng.

Trong trường hợp Tòa án xem xét chia thừa kế, tài sản chung theo pháp luật cho các thành viên trong hộ gia đình thì phần của ông, bà được hưởng; ông, bà đồng ý giao cho ông L1 để nhằm ổn định chỗ ở cho ông L1.

Tại Biên bản hòa giải ngày 04/7/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn L, bà Dương Thị M, ông Dương Văn Đ1 trình bày:

Thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông Dương Văn T.

Tại Đơn cung cấp chứng cứ ngày 02/11/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị Y trình bày:

Vào năm 2015, vợ chồng bà có nhận chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị G, phần đất cặp Quốc lộ N, chiều ngang 21,2m, chiều dài hết đất, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, với giá chuyển nhượng là 530.000.000 đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà G cho rằng: Ông L1 yêu cầu ổn định phần đất chỗ nhà ông đang ở, bà G không đồng ý; bà G chỉ đồng ý ổn định cho ông L1 phần đất có diện tích 40m nằm giáp với ông N1 và không yêu cầu ông L1 trả giá trị đất; phần đất còn lại yêu cầu ông L1 trả cho bà G có diện tích 210,7m², bà G sẽ trả giá trị nhà và tài sản trên đất cho ông L1 theo giá đã định.

Việc Nhà nước cấp đất vào năm 1984 thì sổ hộ khẩu gia đình của bà G không có tên ông D2 và ông L1; nên ông D2 và ông L1 không có đất trong thửa đất số 59, tờ bản đồ số 03. Ngoài ra, theo giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho hộ bà G năm 1994 cũng không có ông D2 và ông L1; theo người làm chứng ông N4, ông S1 và ông V xác định thời điểm cấp đất không biết ông D2 và ông L1 có mặt ở địa phương hay không, nên cấp đất không có ông D2 và ông L1; còn bà H2 là con riêng của vợ sau ông D2, không có liên quan gì đến tài sản đang tranh chấp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn (sau khi thay đổi) là bà G đồng ý ổn định cho ông L1 phần đất có diện tích 40m² nằm giáp với ông N1 và không yêu cầu ông L1 trả giá trị đất; phần đất còn lại yêu cầu ông L1 trả cho bà G có diện tích 210,7m², bà G sẽ trả giá trị nhà và tài sản trên đất cho ông L1 theo giá đã định và đề nghị không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông L1.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã căn cứ: Khoản 5, 9 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 68, khoản 2 Điều 92, khoản 1, 2 Điều 147, khoản 1 Điều 153, khoản 1, 2 Điều 157, Điều 158, khoản 1, 2 Điều 165, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2, 3 Điều 228, khoản 1, 2 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273; điểm a khoản 1 Điều 470, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 2, khoản 3 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân su năm 2015; Các Điều 219, 612, 613, 649, điểm a khoản 1 Điều 650, Điều 651, Điều 654, khoản 2 Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a, b khoản 1, khoản 2, 3 Điều 24, điển a, b khoản 7 Điều 27, Điều 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện (sau khi thay đổi) của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G về việc bà G đồng ý ổn định cho ông L1 phần đất có diện tích 40m² nằm giáp với ông Nguyễn Văn N1 và không yêu cầu ông L1 trả giá trị đất; phần đất còn lại yêu cầu ông L1 trả cho bà G có diện tích 210,7m², bà G sẽ trả giá trị nhà và tài sản trên đất cho ông L1 theo giá đã định.
  2. Đình chỉ đối với một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Dương Văn L1 đối với yêu cầu chia giá trị nhà bà G đang ở và đối với yêu cầu công nhận phần đất ông đang ở có diện tích 250,7m², thuộc một phần thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78, tọa lạc lại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông.
  3. Chấp nhận đối với yêu cầu phản tố còn lại của bị đơn ông Dương Văn L1 về việc yêu cầu: Chia tài sản chung và chia thừa kế tài sản của ông Dương Văn D2 như sau:
    1. Chia thừa kế tài sản và giao cho bà Nguyễn Thị G toàn bộ thửa đất cũ số 56 (thửa mới số 32), tờ bản đồ cũ số 03 (tờ mới số 74), theo đo đạc thực tế có diện tích 713,3m² (trên đất có nhà và cây trồng của bà Nguyễn Thị G), tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cho tất cả các đồng thừa kế của ông Dương Văn D2, phần đất có số đo tứ cận như sau:
    2. - Hướng Đông giáp với phần đất ông Nguyễn Thanh T5, có số đo 19,14m + 13,59m = 32,73m.

      - Hướng Tây giáp với phần đất ông Huỳnh Văn Đ2, có số đo 28,63m.

      - Hướng Nam giáp với phần đất ông Huỳnh Văn Đ2, có số đo 1,95m + 16,93m = 18,88m.

      - Hướng bắc giáp với đường bê tông, có số đo 2,58m + 17,58m + 8,82m = 28,98m.

      Ngoài ra, trên thửa đất này có nhà ông Nguyễn Thanh T3 đang ở (do bà Nguyễn Thị G tặng cho ông Dương Văn T và ông Dương Văn T chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn N2) không có tranh chấp; bà Nguyễn Thị G và ông Dương Văn T được quyền tiếp tục thực hiện việc tặng cho và chuyển nhượng, nếu sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

    3. Chia tài sản chung là toàn bộ thửa đất cũ số 59, tờ bản đồ cũ số 03 (kể cả phần tiền do Nhà nước bồi thường và tiền do bà Nguyễn Thị G chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn N1 và chuyển nhượng đất cho ông Lưu Thiện D, bà Lưu Thị Y) và chia thừa kế tài sản đối với phần của ông Dương Văn D2. Cụ thể:
      1. Ổn định cho ông Dương Văn T phần đất tại thửa đất mới số 09, tờ bản đồ số 48, có diện tích 205,7m² (trên đất có nhà của ông T), tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có số đo tứ cận như sau:
      2. - Hướng Đông giáp phần đất ông Nguyễn Văn T6, có số đo 20,86m.

        - Hướng Tây giáp với Quốc lộ I, có số đo 7,26m + 13,39m = 20,65m.

        - Hướng Nam giáp với phần đất ông Trần Hoàng E, có số đo 9,32m.

        - Hướng bắc giáp với huyện lộ 3, có số đo 10,40m.

      3. Ổn định cho ông Dương Văn L1 phần đất còn lại tại thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78, có diện tích 250,7m² (trên đất có nhà và cây trồng của ông L1), tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có số đo tứ cận như sau:
      4. - Hướng Đông giáp phần đất bà Trình Thị Kim T7, có số đo 22,1m.

        - Hướng Tây giáp với Quốc lộ N (Quốc lộ I), có số đo 22,1m.

        - Hướng Nam giáp với huyện lộ 3, có số đo 11,35m.

        - Hướng bắc giáp với phần đất trống không có tranh chấp, có số đo 11,33m.

        Ngoài ra, một phần của thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78 bà Nguyễn Thị G chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn N1 một phần và chuyển nhượng cho ông Lưu Thiện D, bà Lưu Thị Y một phần, những người nhận chuyển nhượng đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất và không có tranh chấp; bà Nguyễn Thị G được quyền tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng, nếu sau này có tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

        (Đính kèm sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 18/7/2019-BL số 133 và 02 sơ đồ hiện trạng thửa đất cùng ngày 26/9/2019-BL số 211 và 212).

    4. Về trả giá trị tài sản chung và trả giá trị kỷ phần thừa kế như sau:
    5. - Ghi nhận sự tự nguyện của ông Dương Văn L1 về việc không buộc bà Nguyễn Thị G trả cho ông Dương Văn L1 tổng số tiền 303.700.631 đồng (Ba trăm linh ba triệu bảy trăm nghìn sáu trăm ba mươi mốt đồng).

      - Buộc bà Nguyễn Thị G trả cho ông Dương Văn T tổng số tiền 66.291.877 đồng (Sáu mươi sáu triệu hai trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng).

      - Buộc bà Nguyễn Thị G trả cho ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L và bà Dương Thị M mỗi người tổng số tiền 179.382.877 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu ba trăm tám mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng).

      - Buộc bà Nguyễn Thị G trả cho bà Dương Thị H2 tổng số tiền 57.004.714 đồng (Năm mươi bảy triệu không trăm linh bốn nghìn bảy trăm mười bốn đồng).

  4. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với thời gian chậm thi hành án.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
    1. Bà Nguyễn Thị G được miễn án phí theo luật định. H7 lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm bà G đã nộp theo biên lai thu số 0007527 ngày 27/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
    2. Ông Dương Văn T, ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L, bà Dương Thị M mỗi người chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo các biên lai thu số 0007528, 0007529, 0007530, 0007531, 0007532, 0007533 đều cùng ngày 27/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông T, ông Đ, ông H, ông Đ1, ông L, bà M đã nộp xong án phí phúc thẩm.
  6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị Cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
  8. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lục pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn Kháng cáo của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Văn T, ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L, bà Dương Thị M có ông Dương Văn T là người đại diện theo ủy quyền trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án và xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Tại Tờ khai quan hệ thừa kế theo pháp luật (BL số 02-05) xác định ông Dương Văn D2 (chết năm 2009), có vợ là bà Nguyễn Thị G, có 09 người con gồm: Dương Văn L1, Dương Văn Đ, Dương Thành H, Dương Quốc T2, Dương Thị H1, Dương Văn Đ1, Dương Văn L, Dương Văn T, Dương Thị M. Ngoài ra, tại Công văn số 10/CV-CAX ngày 06/12/2019 (BL số 98) xác định: Ông D2 có vợ sau là bà Lê Thị H6 (chết năm 2019), có 01 người con tên Dương Thị H2; ông D2 không có con nuôi, con riêng, con ngoài giá thú nào khác; cha mẹ ông D2 đều đã chết. Đồng thời, tại Biên bản lấy lời khai ngày 05/11/2020 (BL số 333) ông T xác định: Phần đất bà G cho ông T, ông T chuyển nhượng cho ông N2, ông N2 cho con là ông Nguyễn Thanh T3 ở, hiện căn nhà ông T3 gồm: Ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Thanh T3, vợ ông T3 là bà Lê Thị Thúy N3, vợ ông N2 là bà Cao Thị B sinh sống. Phần đất mà bà G chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn N1 vào năm 2014, thời điểm đó ông N1 có vợ là bà Nguyễn Thị D1. Phần đất mà bà G chuyển nhượng cho bà Lưu Thị Y năm 2014, thời điểm đó bà Y có chồng là ông Lưu Thiện D. Phần đất tại thửa số 18, tờ bản đồ số 78 gồm có ông Dương Văn L1, ông Dương Công Q, bà Trương Thị Thảo T4 sinh sống. Phần đất tại thửa số 09, tờ bản đồ số 48 gồm có ông Dương Văn T, bà Tạ Thị Ngọc H3, anh Dương Bảo H4, chị Dương Ngọc H5 sinh sống. Căn nhà bà G đang ở trên thửa đất số 56, tờ bản đồ số 03 ngoài bà G còn có ông Dương Văn L, bà Huỳnh Thị Hồng M1, anh Dương Huỳnh Phương Lâm sinh S; nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa đầy đủ những người vừa nêu trên vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2] Các đương sự trong nước thống nhất kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 18/7/2019 đối với một phần thửa đất cũ số 59 (thửa mới số 18), tờ bản đồ cũ số 03 (tờ mới số 78), phần đất do ông L1 đang quản lý, sử dụng, theo đo đạc thực tế có diện tích 250,7m² (đất trồng cây lâu năm); căn nhà của ông L1 có diện tích 147,64m²; cây trồng trên đất gồm: Cây Gừa loại A 03 cây, cây bàn loại A 01 cây. Và kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/9/2019 đối với thửa đất cũ số 56 (thửa mới số 32), tờ bản đồ cũ số 03 (tờ mới số 74), có diện tích thực tế là 713,3m² (đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm). Trong đó, phần chuyển nhượng cho ông N2, ông N2 cho ông T3 ở có diện tích 114m²; phần còn lại có diện tích 599,3m²; căn nhà của bà G có diện tích 105,18m²; căn nhà của ông T3 có diện tích 58,48m²; cây trồng trên đất gồm: Mãn cầu ta loại C 01 cây, chuối loại B 05 cây, khế loại A 01 cây, cau loại C 01 cây, đu đủ loại A 03 cây, loại B 01 cây, sầu riêng loại A 01 cây, dừa thường loại A 04 cây, loại C 06 cây, dừa nước 50 tàu, nhãn da bò loại A 01 cây, loại B 01 cây, mãn cầu xiêm loại B 01 cây, mận An Phước loại B 01 cây, nhãn lông loại B 01 cây, xoài Đài Loan loại A 01 cây. Và một phần thửa đất cũ số 59 (thửa mới số 09), tờ bản đồ cũ số 03 (tờ mới số 48), do ông T đang quản lý, sử dụng, theo đo đạc thực tế có diện tích 205,7m² (đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm); nhà của ông T, nhà thứ nhất (nhà tiền chế) có diện tích 50,02m² và nhà thứ hai có diện tích 129,81m²; các phần đất trên đều tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

[2.3] Theo Chứng thư thẩm định giá ngày 16/9/2022, đối với thửa đất cũ số 56 (thửa mới số 32), tờ bản đồ cũ số 03 (tờ mới số 74), theo đo đạc thực tế có diện tích 713,3m², có giá là 1.009.347.400 đồng; căn nhà của bà G có diện tích 105,18m², giá trị còn lại là 348.545.484 đồng; căn nhà của ông T3 có diện tích 58,48m², giá trị còn lại là 159.860.928 đồng; cây trồng trên đất có tổng giá trị là 10.190.000 đồng. Đối với một phần thửa đất cũ số 59 (thửa mới số 18), tờ bản đồ cũ số 03 (tờ mới số 78), theo đo đạc thực tế có diện tích 250,7m², có giá trị là 188.958.000 đồng (Định giá lại theo Chứng thư thẩm định giá ngày 20/12/2022 có giá trị là 234.493.000 đồng); căn nhà của ông L1 có diện tích 147,64m², giá trị còn lại là 84.243.384 đồng; cây trồng trên đất có tổng giá trị là 1.077.000 đồng. Đối với một phần thửa đất cũ số 59 (thửa mới số 09), tờ bản đồ cũ số 03 (tờ mới số 48), theo đo đạc thực tế có diện tích 205,7m², có giá trị là 113.091.000 đồng; nhà của ông T, nhà thứ nhất (nhà tiền chế) có diện tích 50,02m², giá trị còn lại là 43.157.256 đồng và nhà thứ hai có diện tích 129,81m², giá trị còn lại là 544.961.852 đồng, để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thống nhất với các kết quả đo đạc, định giá ở cấp sơ thẩm.

[2.4] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông L1 về việc chia thừa kế toàn bộ quyền sử dụng đất của ông D2 chết để lại trong thửa đất cũ số 56 (thửa mới số 32), tờ bản đồ cũ số 03 (tờ mới số 74), tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cho tất cả các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật; ông được nhận 03 kỷ phần (kỷ phần thừa kế của ông và kỷ phần thừa kế của ông T2, bà H6 tặng cho ông):

Xét thấy, các bên đương sự đều xác định thửa đất cũ số 56 (thửa mới số 32), tờ bản đồ cũ số 03 (tờ mới số 74), theo đo đạc thực tế có diện tích 713,3m², có nguồn gốc là của Điền chủ cho ông D2 và bà G sử dụng từ trước năm 1954 để cất nhà ở và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ vào ngày 23/5/1994. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là di sản thừa kế của ông D2 theo quy định tại Điều 612 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và theo quy định tại khoản 1 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với phần đất và nhà hiện nay ông T3 đang ở, ông T cho rằng ông được bà G tặng cho ông cất nhà ở vào năm 1997, không có làm giấy tờ, đến năm 2014 ông chuyển nhượng cho vợ chồng ông N2, vợ chồng ông N2 cho con tên T3 ở, hiện nay vẫn chưa làm thủ tục tách giấy chứng nhận QSDĐ cho vợ chồng ông N2 hoặc ông T3 và cũng không ai có yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng tặng cho và chuyển nhượng như vừa nêu. Tuy nhiên, phần đất chuyển nhượng này nằm trong tổng diện tích 713,3m² là di sản thừa kế của ông D2 chết để lại không có di chúc. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 613, Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650, Điều 651, khoản 2 Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015, để xem xét phân chia di sản thừa kế của ông D2 theo pháp luật. Tuy bà H2 là con riêng của vợ sau ông D2, nhưng có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con thì được thừa kế di sản của nhau theo quy định tại Điều 654 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Khi chia thừa kế thì Hội đồng xét xử chia giá trị QSDĐ và tiếp tục giao toàn bộ phần đất này cho bà G để bà G thực hiện quyền tặng cho và chuyển nhượng như vừa nêu trên. Như nhận định ở trên, thì phần đất có diện tích 713,3m², có giá là 1.009.347.400 đồng. Phần di sản của ông D2 là 504.673.700 đồng, phần này chia cho hàng thừa kế của ông D2 gồm bà G, ông L1, ông Đ, ông H, ông T2, bà H6, ông Đ1, ông L, ông T, bà M1 và bà H2 mỗi người là 45.879.427 đồng. Do ông T2 và bà H6 tặng cho ông L1, nên ông L1 được nhận 03 kỷ phần với tổng số tiền là 137.638.281 đồng. Còn cây trồng trên đất là do bà G trồng, ông L1 không yêu cầu chia thừa kế, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.5] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông L1 về việc chia tài sản chung là phần diện tích đất mà bản thân ông được hưởng khi Nhà nước thực hiện chính sách trang trãi chia đất cho gia đình ông vào năm 1984, với diện tích 3.000m², thuộc thửa đất cũ số 59, tờ bản đồ cũ số 03 (kể cả phần tiền do Nhà nước bồi thường và tiền do bà G chuyển nhượng đất) và ông được nhận 03 phần (phần của ông và phần của ông T2, bà H6 tặng cho ông) và chia thừa kế phần của cha ông là ông D2. Đồng thời, ông yêu cầu được nhận hiện vật là toàn bộ phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 250,7m², thuộc một phần thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78 nêu trên mà ông đã được cha, mẹ cắt chia cho vào năm 2007, để vợ chồng và các con ông ổn định chỗ ở. Đồng thời, đây cũng là thửa đất nguyên đơn bà G khởi kiện buộc ông L1 trả lại phần đất có diện tích 250,7m² vì cho rằng vào năm 1984 khi nhà nước trang trãi đất đai thì hộ gia đình lúc đó không có tên ông D2 và ông L1.

Xét thấy:

[2.5.1] Khi Nhà nước thực hiện chính sách trang trãi đất đai vào năm 1984 thì có cấp cho hộ gia đình ông D2 và bà G phần đất nông nghiệp có diện tích 3.000m², bà G đăng ký và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ bà G vào ngày 23/5/1994, thành thửa đất số 59, tờ bản đồ số 03. Theo người làm chứng ông Nguyễn Văn S1 (Trưởng ban nông nghiệp xã A) và ông Huỳnh Văn N4 (Phó ban nông nghiệp xã A) xác định: Khi Nhà nước thực hiện chủ trương trang trãi đất đai vào năm 1984 thì Tập đoàn D3, xã A có cấp đất cho hộ ông D2 và bà G phần đất có diện tích 3.000m², cấp theo sổ hộ khẩu gia đình lúc đó có tên ông D2, không biết có tên ông L1 hay không (không có tính lao động chính, lao động phụ, do gia đình ông D2 có nhiều nhân khẩu nên được cấp đất nhiều hơn gia đình khác, gia đình khác được cấp 2.000m²).

Theo Văn bản số 315/CAH-HC ngày 08/10/2023 của Công an huyện K, tỉnh Sóc Trăng cung cấp cho Công ty L3 có nội dung: Không có lưu hồ sơ từng giai đoạn cụ thể nên không có căn cứ trả lời từ thời điểm tính từ năm 1993, 1994. Căn cứ vào hồ sơ hộ bà Nguyễn Thị G1, sinh năm 1938 có thể hiện khai danh sách nhân khẩu từ năm 1977 đến nay có 01 bản khai nhân khẩu ngày 10/01/1977 của ông D2 đăng ký ngoài bà G, ông Đ, ông H, ông T2, bà H6, ông Đ1, ông L, ông T và bà M1 thì có tên ông D2 và ông L1; mặc dù đã đánh dấu xóa khẩu nhưng không ghi ngày, tháng, năm xóa khẩu và 01 bản khai nhân khẩu vào năm 1995 do bà G đăng ký thì không có tên của ông D2 và ông L1.

Mặc khác, ông D2 đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 07/4/1996 (BL số 98) và ông L1 đăng ký nhập hộ khẩu thường trú tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 10/01/2003. Qua đó, có thể xác định từ năm 1977 – 1995 thì ông D2 và ông L1 vẫn thuộc hộ khẩu gia đình. Như vậy, thời điểm cấp đất năm 1984 thì ông D2 và ông L1 vẫn còn trong hộ khẩu gia đình, nên có đủ cơ sở xác định: Khi Nhà nước thực hiện chính sách trang trãi đất đai vào năm 1984 thì có cấp cho hộ gia đình ông D2 và bà G bao gồm: Ông D2, bà G và các con là ông L1, ông Đ, ông H, ông T2, bà H6, ông Đ1, ông L, ông T và bà M1, tổng cộng là 11 nhân khẩu. Chính vì vậy, ông L1 yêu cầu chia tài sản chung theo phần và chia thừa kế phần của ông D2 đối với thửa đất này là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 219 và Điều Điều 612, 613, Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650, Điều 651, Điều 654, khoản 2 Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013.

[2.5.2] Thửa đất cũ số 59, tờ bản đồ cũ số 03 Nhà nước thu hồi bồi thường cho bà G nhận số tiền 28.575.800 đồng (BL số 330-331). Sau đó, phần đất còn lại bà G đăng ký thành 02 thửa là thửa đất mới số 09, tờ bản đồ số 48, diện tích 205,7m², được cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ bà G vào ngày 22/12/2014 (BL số 353); theo Chứng thư thẩm định giá ngày ngày 16/9/2022, phần đất có giá trị là 113.091.000 đồng (thửa đất này ông T đang quản lý, sử dụng; nhà trên đất là do ông T đầu tư xây dựng không phải là di sản thừa kế) và thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78, diện tích 761,7m², được cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ bà G vào ngày 22/12/2014 (BL số 365); vào năm 2014, bà G chuyển nhượng cho ông N1 một phần đất thuộc thửa đất này có diện tích 229,3m², với số tiền 440.000.000 đồng (BL số 392) và vào năm 2015 bà G chuyển nhượng cho ông D và bà Y một phần đất thuộc thửa đất này có chiều ngang 21,2m², chiều dài hết đất, với số tiền 530.000.000 đồng (BL số 388). Phần đất còn lại của thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78, diện tích 250,7m², theo Chứng thư thẩm định giá ngày ngày 20/12/2022, phần đất có giá trị là 234.493.000 đồng (phần đất này ông L1 đang quản lý, sử dụng; nhà trên đất là do ông L1 đầu tư xây dựng, cây trồng là do ông L1 trồng không phải là di sản thừa kế). Như vậy, toàn bộ thửa đất cũ số 59, tờ bản đồ cũ số 03 (kể cả tiền Nhà nước bồi thường, tiền bà G chuyển nhượng đất và tách thành 02 thửa đất mới) có tổng giá trị là 1.346.159.800 đồng. Hội đồng xét xử ổn định cho ông T phần đất của thửa đất mới số 09, tờ bản đồ số 48 và ổn định cho ông L1 phần đất còn lại của thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78. Phần đất còn lại của thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78 bà G chuyển nhượng cho ông N1 một phần và chuyển nhượng cho ông D, bà Y một phần, những người nhận chuyển nhượng đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất và không có yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, những người này có quyền khởi kiện thành vụ liện khác theo quy định của pháp luật (nếu sau này có tranh chấp).

[2.5.3] Tài sản chung được phân chia như sau: Hộ gia đình của ông D2 và bà G vào năm 1984 Nhà nước cấp đất gồm 11 nhân khẩu, nên mỗi nhân khẩu tương ứng với số tiền 122.378.163 đồng. Do ông T2 và bà H6 tặng cho ông L1, nên ông L1 được nhận 03 phần với tổng số tiền là 367.134.489 đồng.

[2.5.4] Phần di sản thừa kế của ông D2 được phân chia như sau: Số tiền 122.378.163 đồng, phần này chia cho hàng thừa kế của ông D2 gồm bà G, ông L1, ông Đ, ông H, ông T2, bà H6, ông Đ1, ông L, ông T, bà M1 và bà H2 mỗi người là 11.125.287 đồng. Do ông T2 và bà H6 tặng cho ông L1, nên ông L1 được nhận 03 kỷ phần với tổng số tiền là 33.375.861 đồng.

[3] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử ổn định phần đất gắn liền với nhà cho bà G, cho ông L1 và ông T. Buộc bà G trả giá trị phần tài sản chung và kỷ phần thừa kế cho những người thừa kế gồm: Tổng số tiền ông L1 được hưởng và được tặng cho là 538.148.631 đồng (137.638.281 + 367.134.489 + 33.375.861) - số tiền 234.493.000 đồng (giá trị QSDĐ tại vị trí ông được ổn định) = 303.700.631 đồng. Tổng số tiền ông T được hưởng là 179.382.877 đồng (45.879.427 + 122.378.163 + 11.125.287) - số tiền 113.091.000 đồng (giá trị QSDĐ tại vị trí ông được ổn định) = 66.291.877 đồng. Tổng số tiền ông Đ, ông H, ông Đ1, ông L và bà M1 mỗi người được hưởng là 179.382.877 đồng (45.879.427 + 122.378.163 + 11.125.287). Tổng số tiền bà H2 được hưởng là 57.004.714 đồng (45.879.427 + 11.125.287).

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của bà G về việc bà G đồng ý ổn định cho ông L1 phần đất có diện tích 40m² nằm giáp với ông N1 và không yêu cầu ông L1 trả giá trị đất; phần đất còn lại yêu cầu ông L1 trả cho bà G có diện tích 210,7m², bà G sẽ trả giá trị nhà và tài sản trên đất cho ông L1 theo giá đã định. Xét thấy, tại các nhận định ở mục [2], [3] thì đây là chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản và ổn định cho ông L1 phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 250,7m², thuộc một phần thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của bà G là có căn cứ.

Vì vậy, Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ông Dương Văn L1 tự nguyện không nhận số tiền 303.700.631 đồng mà bà G phải trả giá trị kỷ phần thừa kế cho ông. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T, ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L, bà Dương Thị M có ông Dương Văn T là người đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có căn cứ để chấp nhận. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Hội đồng xét xử thống nhất sửa một phần bản án sơ thẩm về việc ông Dương Văn L1 tự nguyện không nhận số tiền 303.700.631 đồng mà bà G phải trả giá trị kỷ phần thừa kế cho ông.

[7] Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, nên những người kháng cáo là nguyên đơn bà Nguyễn Thị G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T, ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L, bà Dương Thị M phải chịu án phí phúc thẩm. Bà G là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T, ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L, bà Dương Thị M có ông Dương Văn T là người đại diện theo ủy quyền.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc ông Dương Văn L1 tự nguyện không nhận số tiền 303.700.631 đồng mà bà G phải trả giá trị kỷ phần thừa kế cho ông.

Áp dụng Khoản 5, 9 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 68, khoản 2 Điều 92, khoản 1, 2 Điều 147, khoản 1 Điều 153, khoản 1, 2 Điều 157, Điều 158, khoản 1, 2 Điều 165, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2, 3 Điều 228, khoản 1, 2 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273; điểm a khoản 1 Điều 470, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 2, khoản 3 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân su năm 2015; Các Điều 219, 612, 613, 649, điểm a khoản 1 Điều 650, Điều 651, Điều 654, khoản 2 Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a, b khoản 1, khoản 2, 3 Điều 24, điển a, b khoản 7 Điều 27, Điều 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện (sau khi thay đổi) của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G về việc bà G đồng ý ổn định cho ông L1 phần đất có diện tích 40m² nằm giáp với ông Nguyễn Văn N1 và không yêu cầu ông L1 trả giá trị đất; phần đất còn lại yêu cầu ông L1 trả cho bà G có diện tích 210,7m², bà G sẽ trả giá trị nhà và tài sản trên đất cho ông L1 theo giá đã định.
  2. Đình chỉ đối với một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Dương Văn L1 đối với yêu cầu chia giá trị nhà bà G đang ở và đối với yêu cầu công nhận phần đất ông đang ở có diện tích 250,7m², thuộc một phần thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78, tọa lạc lại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông.
  3. Chấp nhận đối với yêu cầu phản tố còn lại của bị đơn ông Dương Văn L1 về việc yêu cầu: Chia tài sản chung và chia thừa kế tài sản của ông Dương Văn D2 như sau:
    1. Chia thừa kế tài sản và giao cho bà Nguyễn Thị G toàn bộ thửa đất cũ số 56 (thửa mới số 32), tờ bản đồ cũ số 03 (tờ mới số 74), theo đo đạc thực tế có diện tích 713,3m² (trên đất có nhà và cây trồng của bà Nguyễn Thị G), tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cho tất cả các đồng thừa kế của ông Dương Văn D2, phần đất có số đo tứ cận như sau:
    2. - Hướng Đông giáp với phần đất ông Nguyễn Thanh T5, có số đo 19,14m + 13,59m = 32,73m.

      - Hướng Tây giáp với phần đất ông Huỳnh Văn Đ2, có số đo 28,63m.

      - Hướng Nam giáp với phần đất ông Huỳnh Văn Đ2, có số đo 1,95m + 16,93m = 18,88m.

      - Hướng bắc giáp với đường bê tông, có số đo 2,58m + 17,58m + 8,82m = 28,98m.

      Ngoài ra, trên thửa đất này có nhà ông Nguyễn Thanh T3 đang ở (do bà Nguyễn Thị G tặng cho ông Dương Văn T và ông Dương Văn T chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn N2) không có tranh chấp; bà Nguyễn Thị G và ông Dương Văn T được quyền tiếp tục thực hiện việc tặng cho và chuyển nhượng, nếu sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

    3. Chia tài sản chung là toàn bộ thửa đất cũ số 59, tờ bản đồ cũ số 03 (kể cả phần tiền do Nhà nước bồi thường và tiền do bà Nguyễn Thị G chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn N1 và chuyển nhượng đất cho ông Lưu Thiện D, bà Lưu Thị Y) và chia thừa kế tài sản đối với phần của ông Dương Văn D2. Cụ thể:
      1. Ổn định cho ông Dương Văn T phần đất tại thửa đất mới số 09, tờ bản đồ số 48, có diện tích 205,7m² (trên đất có nhà của ông T), tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có số đo tứ cận như sau:
      2. - Hướng Đông giáp phần đất ông Nguyễn Văn T6, có số đo 20,86m.

        - Hướng Tây giáp với Quốc lộ I, có số đo 7,26m + 13,39m = 20,65m.

        - Hướng Nam giáp với phần đất ông Trần Hoàng E, có số đo 9,32m.

        - Hướng bắc giáp với huyện lộ 3, có số đo 10,40m.

      3. Ổn định cho ông Dương Văn L1 phần đất còn lại tại thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78, có diện tích 250,7m² (trên đất có nhà và cây trồng của ông L1), tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có số đo tứ cận như sau:
      4. - Hướng Đông giáp phần đất bà Trình Thị Kim T7, có số đo 22,1m.

        - Hướng Tây giáp với Quốc lộ N (Quốc lộ I), có số đo 22,1m.

        - Hướng Nam giáp với huyện lộ 3, có số đo 11,35m.

        - Hướng bắc giáp với phần đất trống không có tranh chấp, có số đo 11,33m.

        Ngoài ra, một phần của thửa đất mới số 18, tờ bản đồ số 78 bà Nguyễn Thị G chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn N1 một phần và chuyển nhượng cho ông Lưu Thiện D, bà Lưu Thị Y một phần, những người nhận chuyển nhượng đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất và không có tranh chấp; bà Nguyễn Thị G được quyền tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng, nếu sau này có tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

        (Đính kèm sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 18/7/2019-BL số 133 và 02 sơ đồ hiện trạng thửa đất cùng ngày 26/9/2019-BL số 211 và 212).

    4. Về trả giá trị tài sản chung và trả giá trị kỷ phần thừa kế như sau:
    5. - Ghi nhận sự tự nguyện của ông Dương Văn L1 về việc không buộc bà Nguyễn Thị G trả cho ông Dương Văn L1 tổng số tiền 303.700.631 đồng (Ba trăm linh ba triệu bảy trăm nghìn sáu trăm ba mươi mốt đồng).

      - Buộc bà Nguyễn Thị G trả cho ông Dương Văn T tổng số tiền 66.291.877 đồng (Sáu mươi sáu triệu hai trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng).

      - Buộc bà Nguyễn Thị G trả cho ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L và bà Dương Thị M mỗi người tổng số tiền 179.382.877 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu ba trăm tám mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng).

      - Buộc bà Nguyễn Thị G trả cho bà Dương Thị H2 tổng số tiền 57.004.714 đồng (Năm mươi bảy triệu không trăm linh bốn nghìn bảy trăm mười bốn đồng).

  4. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với thời gian chậm thi hành án.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
    1. Bà Nguyễn Thị G được miễn án phí theo luật định. H7 lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm bà G đã nộp theo biên lai thu số 0007527 ngày 27/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
    2. Ông Dương Văn T, ông Dương Văn Đ, ông Dương Thành H, ông Dương Văn Đ1, ông Dương Văn L, bà Dương Thị M mỗi người chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo các biên lai thu số 0007528, 0007529, 0007530, 0007531, 0007532, 0007533 đều cùng ngày 27/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông T, ông Đ, ông H, ông Đ1, ông L, bà M đã nộp xong án phí phúc thẩm.
  6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị Cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
  8. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lục pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 813/2024/DS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho mượn, yêu cầu công nhận quyền sử đất và yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản

  • Số bản án: 813/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho mượn, yêu cầu công nhận quyền sử đất và yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger