Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 813/2023/HS-PT

Ngày 23 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Cầu

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 568/2023/TLPT ngày 20 -8-2023 về “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”. Do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Kim C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 296/2023/HS-ST ngày 26-6-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2536/2023/QĐXXPT-HS ngày 05-10 - 2023.

- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:

Họ và tên: Huỳnh Thị Kim C, giới tính: nữ; sinh năm: 1988 tại Ninh Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C22-08 Chung cư H2, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Cha: Huỳnh Xuân H, sinh năm 1961; mẹ: Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1962; có 01 con nhỏ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thị Kim C: Luật sư Nguyễn Đức Thắng Ý, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 30 phút, ngày 15/11/2021, Công an phường B1, quận B phối hợp với Phòng Q, Công an Thành phố H tiến hành kiểm tra Căn hộ L5-45OT.12A, Chung cư V, phát hiện một người đàn ông Trung Quốc tên Wu Wen Y đang cư trú sinh sống tại đây, không đăng ký lưu trú và không có giấy tờ tùy thân nên đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính. Quá trình điều tra xác định như sau:

Khoảng tháng 4/2021, Wu Wen Y muốn sang Việt Nam tìm kiếm việc làm đi theo thủ tục du lịch. Yuan liên hệ nhóm người Trung Quốc (không rõ lai lịch) thoả thuận tổng chi phí chuyến đi là 10.000 nhân dân tệ. Sau đó Y được một người Trung Quốc dẫn đi bằng đường bộ hướng đi từ Q, Trung Quốc sang Việt Nam đến biên giới Y được dẫn đi theo lối mòn, tránh được sự kiểm soát của Cơ quan quản lý Trung Quốc và Việt Nam. Khi vào được lãnh thổ Việt Nam, Y lên xe ôtô di chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh. Đến nơi Y được bố trí ở tại một căn hộ với 02 người khác (không nhớ tên người này và không rõ địa chỉ nơi ở). Tại đây, Y lên mạng qua tài khoản ứng dụng Wechat (đăng ký bằng số điện thoại 0812.371.xxx) tìm người biết nói tiếng Trung Quốc và Y đã kết nối liên lạc được với một người phụ nữ Việt Nam và hỏi tìm thuê giúp cho Y 01 căn hộ tại Thành phố Hồ Chí Minh để cư trú thanh toán theo ngày (sau này Y mới biết tên người phụ nữ này là Huỳnh Thị Kim C). Sau khi liên lạc với Y, Kim C đã liên hệ Nguyễn Đức B là người kinh doanh cho thuê căn hộ (B thuê nhiều căn hộ và cho thuê lại hưởng tiền chênh lệch) để hỏi thuê căn hộ cho Y theo thỏa thuận và khi thuê căn hộ C không nói cho B biết là C thuê cho người nước ngoài, B báo giá thuê là 800.000 đồng/1 ngày, địa điểm căn hộ cho thuê là Chung cư V, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Chi báo giá cho Y 1.000.000 đồng/1 ngày, C hưởng chênh lệch 200.000 đồng/1 ngày. Y đồng ý thuê giá Chi báo. Sau đó, B nhắn địa chỉ căn hộ số LP-34.15 và chỉ dẫn C đến hòm thư căn hộ để lấy thẻ đi thang máy để lên Căn hộ. C thông báo chỉ dẫn lại cho Y cách đến nhận căn hộ trên và 16/4/2021, Y trả tiền thuê cho C khi đến ở căn hộ LP-34.15. Đến đầu tháng 10/2021, khi chủ Căn hộ trên có nhu cầu lấy lại căn hộ, B thông báo cho C biết và sắp sếp chuyển sang căn hộ khác số L6-38.12 cũng trong chung cư này. Chi thông tin lại Y và tiếp tục nhờ B phụ giúp Y chuyển hành lý sang Căn hộ mới. Lúc này, B mới phát hiện người thuê căn hộ là người Trung Quốc nên B yêu cầu C cung cấp giấy tờ tùy thân để B đăng ký lưu trú theo đúng quy định. Sau đó C báo giấy tờ bị thất lạc và hẹn khi nào tìm được sẽ cung cấp và B nhiều lần yêu cầu cung cấp giấy tờ của Y thì C bảo người này chưa tìm thấy. Đến giữa tháng 10/2021, B hỏi tiền thuê căn hộ và giấy tờ của Y, do C đi tỉnh Ninh Thuận nên đã đề nghị B lên căn hộ gặp trực tiếp gặp Y và đưa điện thoại nói chuyện với C để đòi giấy tờ, khi B lên căn hộ bấm chuông thì không ai mở cửa

nên thông báo lại cho C biết. Sau đó, C báo với B là Y vẫn chưa tìm thấy giấy tờ, hẹn thêm vài ngày chờ người nhà gửi tiền qua rồi sẽ thanh toán tiền thuê căn hộ đầy đủ và làm lại giấy tờ đưa cho B. Đến cuối tháng 10/2021, chủ căn hộ trên lấy lại nhà nên B thông báo cho C biết sẽ chuyển Y ở căn hộ mới khác cũng trong khu chung cư C.T.12A và B hỗ trợ giúp cho Y chuyển hành lý sang ở căn hộ mới. Từ ngày 24/7/2021, khi Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện cách ly xã hội phòng chống dịch Covid-19 theo Chỉ thị 16 của Chính phủ nên việc mua đồ dùng sinh hoạt gặp khó khăn nên Y liên hệ C và C liên hệ với B để nhờ mua giúp. Ngòai ra, C còn nhờ B đổi tiền đồng nhân dân tệ Trung Quốc sang tiền Việt Nam đồng để Y tiêu xài.

Việc C nhận tiền thanh toán các khoản chi phí như: thuê căn hộ, mua đồ ăn, nước uống và đổi tiền nhân dân tệ theo nhiều đợt do C và Y thỏa luận quy đổi tiền Việt nam đồng thành tiền nhân dân tệ. Y chuyển tiền nhân dân tệ vào tài khoản của C thông qua hệ thống thanh toán Wechat. Sau khi nhận được tiền C thanh toán lại cho Nguyễn Đức B nhiều đợt bằng tiền Việt Nam vào tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần K, cụ thể: Từ ngày 14/6/2021 cho đến khi bị lực lượng chức năng phát hiện (vào ngày 15/11/2021), C đã thuê 03 căn hộ trên từ B để cho Y thuê lại và thời gian Y đã ở là 154,5 ngày, C chuyển tiền cho B tổng số tiền là 119.574.000 đồng, (trong đó: 4.274.000 đồng là thanh toán tiền mua đồ ăn, thức uống, đổi tiền và 115.300.000 đồng là thanh toán tiền thuê căn hộ). Trong đó B đã thu lợi số tiền là 17.940.000 đồng. Ngoài ra C lấy thêm tiền của Y thu lợi số tiền là 44.200.000 đồng.

Đến ngày 15/11/2021, Công an phường B1, quận B Công an kiểm tra phát hiện Wu Wen Yuan đang cư trú sinh sống tại đây, không đăng ký lưu trú và không có giấy tờ tùy thân đã lập biên bản vi phạm hành chính.

Huỳnh Thị Kim C ban đầu khai nhận: C lấy chồng người Hoa nên biết tiếng Trung Quốc, vào khoảng tháng 6/2021, C lên mạng xã hội có kết bạn WeChat với Y. Sau đó Y trao đổi bằng tiếng H1 muốn C tìm giúp chỗ lưu trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Yuan nói C không có giấy tờ tùy thân. Chi liên lạc với Nguyễn Đức B là người kinh doanh cho thuê nếu thuê được Y sẽ chuyển tiền nhân dân tệ, Trung Quốc cho C vào tài khoản ứng dụng Wechat của C.

Quá trình điều tra Huỳnh Thị Kim C thay đổi lời khai: C cho rằng khi trao đổi tìm thuê chỗ ở Y nói là nhập cảnh hợp pháp theo diện chuyên gia, giấy tờ đầy đủ, đồng thời do việc kiểm tra giấy tờ và đăng ký cư trú cho khách là trách nhiệm của B hoặc chủ sở hữu căn hộ chứ không phải trách nhiệm của người môi giới nên C không nhận thức được đây là người nhập cảnh trái phép vào Việt Nam và không thừa nhận Yuan nhập cảnh trái phép. Tuy nhiên, căn cứ kết quả điều tra, tài liệu, chứng cứ do Cơ quan An ninh điều tra thu thập xác định: C liên lạc với B thuê các

căn hộ cho Y lưu trú và C cũng không xem giấy tờ cá nhân của Y, C không nói thật cho B biết là C thuê căn hộ LP34.15 là cho người Trung quốc lưu trú. Đến khi dọn căn hộ cho Y chuyển sang căn hộ mới L5.45.T12A, B mới biết là khách ở căn hộ này không phải là C mà là người Trung Quốc. Lúc này C mới thông báo nhiều lần cho B là Y đã mất giấy tờ khi nào tìm được sẽ đưa cho B đăng ký lưu trú, C cũng thừa nhận có nhờ B phụ giúp Yuan di chuyển hành lý sang 02 căn hộ mới và nhờ B mua giúp đồ ăn, nước uống và đổi tiền nhân dân tệ cho Y trong khoản thời gian dài lưu trú tại đây. Chi biết B chưa khai báo cư trú cho Y theo đúng quy định pháp luật nhưng vẫn lấy tiền chênh lệch trả tiền thuê căn hộ theo từng ngày cho đến khi Y bị Công an phát hiện thì mới ngưng lấy tiền thuê. Chi có nhận tiền nhân dân tệ nhiều đợt của Y chuyển khoản vào tài khoản WeChat của mình và C đã quy đổi tiền Việt Nam chuyển vào tài khoản Nguyễn Đức B thông qua tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần K để trả cho chủ căn hộ cho thuê. Tổng số tiền C đã thu lợi là 44.200.000 đồng, từ ngày 14/6/2021 đến ngày 15/11/2021 (thời gian này Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội để phòng, chống dịch Covid-19).

Nguyễn Đức B khai nhận 03 căn hộ LP-34.15; L5.4505.12A và L638.12 của Nguyễn Thị Quỳnh T1 cho thuê với giá từ 13.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng/1 tháng để kinh doanh, các căn hộ này B thỏa thuận với C làm trung gian để cho Y ở trong thời gian từ ngày 14/6/2021 cho đến ngày 15/11/2021, tổng số tiền B đã nhận của C là 115.300.000 đồng, B đã trả cho T1 97.360.000 đồng. Trong thời gian này B là người chịu trách nhiệm đăng ký lưu trú cho khách ở theo quy định của Ban Q1.

Thời điểm cho thuê các căn hộ Yuan vào ở là thời gian Thành phố Hồ Chí Minh vừa trải qua giai đoạn cách ly xã hội để phòng, chống dịch Covid-19, B đã được nghe nhiều trước đó trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc các sân bay, cửa khẩu hạn chế nhập cảnh đối với người nước ngoài, cũng như việc có các đối tượng người nước ngoài nhập cảnh trái phép vào Việt Nam trong thời gian này, nên trong một thời gian dài người Trung Quốc không xuất trình được giấy tờ thì B nhận thức được người này nhập cảnh trái phép vào Việt Nam nên không có giấy tờ, nhưng do việc cho C thuê căn hộ để cho người này thuê lại giúp B có thêm thu nhập nên B đã bỏ mặc để tiếp tục cho C thuê căn hộ và hỗ trợ người Trung Quốc này chuyển căn hộ, đổi tiền và mua đồ ăn, thức uống. Tổng số tiền B đã thu lợi là 17.940.000 đồng, từ ngày 14/6/2021 đến ngày 15/11/2021.

Vấn đề C xác nhận chỉ là người môi giới khách cho B và B là người phải chịu trách nhiệm hình sự. B khẳng định C không phải là người môi giới khách cho B vì ban đầu khi liên hệ thuê căn hộ, C không đề cập đến việc có khách là người Trung Quốc thuê nên B chỉ biết C là khách thuê căn hộ và mọi vấn đề liên quan

đến việc thuê căn hộ đều là do B và C trao đổi, thống nhất với nhau. Bản thân B chỉ đến khi hỗ trợ Chi chuyển đồ qua Căn hộ L6-38.12 mới biết việc người ở tại căn hộ mà C thuê là Wu Wen Y. Đồng thời, việc cho Y thuê căn hộ với giá như thế nào là do C quyết định, B không biết việc này nên không thể nói C là người môi giới khách cho B, vì nếu C là người môi giới thì B phải là người thống nhất giá cả với khách hàng, biết được số tiền Y phải trả rồi từ đó mới tính cho C được số tiền môi giới tương ứng, chứ không phải Chi thuê căn hộ từ B để cho người khác thuê lại với giá cao hơn rồi trừ đi số tiền phải trả cho B và xem phần tiền chênh lệch là tiền môi giới thì không đúng.

Wu Wen Y trình bày: Nhập cảnh trái phép vào Lãnh thổ Việt Nam, có liên lạc với Huỳnh Thị Kim C thỏa thuận thuê căn hộ thanh toán theo ở ngày. Lúc thuê Y có nói cho C biết là Yuan nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Ngày 14/6/2021 theo hướng dẫn của C, Y đã đến ở căn hộ LP-34.15 khi nghe thông báo chủ Căn hộ lấy lại, Y được sắp sếp chuyển qua 02 căn hộ khác số L6-38.12 và L5-45OT.12A cũng trong Chung cư V quận B Thành phố Hồ Chí Minh, cho đến 15/11/2021 khi bị Công an phát hiện cư trú không khai báo như trên, Y đã thanh toán tiền nhân dân tệ chuyển khoản vào tài khoản WeChat của C trong thời gian lưu trú tại các căn hộ trên (Cục Q2, Bộ C1, xác định: Wu Wen Y không có thông tin xuất nhập vào Việt Nam và Công an phường B1, quận B xác định: Từ tháng 3/2021 đến ngày 15/11/2021 tại các Căn hộ LP-34.15, L6-38.12 và L5-45OT.12A không có thông tin đăng ký cư trú của ai tên Wu Wen Y).

* Vật chứng vụ án:

  • + Thu giữ của Huỳnh Thị Kim C
    • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xám có ghi trên vỏ số ID: BCG-E2946A và IC: 579C-E2946A.
  • + Thu giữ của Nguyễn Đức B
    • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng, có ghi trên vỏ số IMEI: 358810056291156.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên đối với mức án 01 năm 03 tháng tù và quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án sơ thẩm hình sự số 296/2023/HS-ST ngày 26-6-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 348 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Kim C 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của án treo là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Thị Kim C cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Ngoài ra bản án còn tuyên phạt 01 bị cáo khác 01 năm 03 tháng tù và tuyên về án phí, quyền kháng cáo đối với các bị cáo và đương sự.

Ngày 07-7-2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị theo hướng không đồng ý cho bị cáo Huỳnh Thị Kim C hưởng án treo.

Ngày 10-7-2023, bị cáo Huỳnh Thị Kim C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xuống 01 năm 03 tháng tù và xin giảm thời gian hưởng án treo tương ứng.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Thị Kim C vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Kim C cho rằng bị cáo C không có tình tiết tăng nặng. Có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thật thà khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và số tiền hưởng lợi không lớn; đến nay một mình nuôi con 06 tháng tuổi đang bị bệnh, hiện đang sống ly thân với chồng; bị cáo nộp đủ tiền hưởng lợi và có thai trong quá trình tố tụng nhưng Tòa án sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là chưa chính xác; hiện bị cáo có nơi cư trú ổn định. Như vậy, bị cáo Kim C có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đủ điều kiện hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng giảm một phần hình phạt và giảm thời gian hưởng án treo tương ứng theo pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là không đúng, vì: Quá trình tố tụng bị cáo mang thai và đến nay thì nuôi con nhỏ một mình. Tuy nhiên, với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong thời điểm dịch Covid thực sự nguy hiểm cho xã hội. Đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Kim C, đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng không cho bị cáo Huỳnh Thị Kim C hưởng án treo.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; thẩm tra công khai tại phiên tòa; nghe ý kiến trình bày của bị cáo, Luật sư, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

[1] Bị cáo Huỳnh Thị Kim C kháng cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thể hiện Huỳnh Thị Kim C, Nguyễn Đức B đã cho Wu Wen Y (Trung Quốc) thuê chỗ ở tại 03 căn hộ LP-34.15, L5.4505.12A, L638.12 tại Chung cư V, quận B, TP . của Nguyễn Thị Quỳnh T1 cho thuê với giá 13.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng/tháng. Bị cáo còn cung cấp đồ ăn, đồ uống, đổi tiền nhân dân tệ sang tiền Việt Nam để Y sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các bị cáo đầy đủ nhận thức và điều khiển hành vi nhưng cố tình phạm tội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Huỳnh Thị Kim C, Nguyễn Đức B về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội khi Huỳnh Thị Kim C trao đổi, liên lạc với Y qua ứng dụng Wechat, rồi liên hệ với Nguyễn Đức B thuê nhà cho Y và đã hưởng lợi số tiền 44.200.000 đồng. Chỉ vì hám lợi trước mắt mà các bị cáo đã tạo điều kiện cho người nước ngoài thuê ở trái phép trong khi tình hình dịch Covid đang hoành hành nghiêm trọng, cần xét xử nghiêm, tương xứng hành vi phạm tội để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Kim C không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính 44.200.000 đồng và một mình nuôi con còn nhỏ nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là đúng. Việc bị cáo mang thai trong quá trình điều tra nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thiếu sót. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt trước khi phạm tội, có nơi cư trú ổn định, sau khi phạm tội đã hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo khi Huỳnh Thị Kim C mức án 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo là đã tạo điều kiện để bị cáo chăm sóc, nuôi con nhỏ phù hợp quy định pháp luật.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Kim C và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấo cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Kim C không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH :

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị Kim C và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 296/2023/HS-ST ngày 26-6-2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tuyên xử:

    Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 348 Bộ luật Hình sự; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Kim C 02 (hai) năm tù, về “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”, nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách của án treo là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Huỳnh Thị Kim C cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng, để sung ngân sách nhà nước.

  2. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Kim C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Các Quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 23 - 10 - 2023./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúy Cầu

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao
  • - VKSND cấp cao tại TP. HCM
  • - TAND Tp Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS Tp Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Tp Hồ Chí Minh;
  • - Công an Tp Hồ Chí Minh;
  • - BCTN;
  • - Lưu HS; VP. (UMTT)

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Toàn Cao Văn Tám

Lê Thúy Cầu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 813/2023/HS-PT ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức cho người khác ở lại việt nam trái phép

  • Số bản án: 813/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger