Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 811/2024/DS-PT

Ngày 23 - 9 – 2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và

khiếu kiện Quyết định hành chính,

yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và

tài sản gắn liên với đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Thanh Dũng

Ông Phan Tô Ngọc

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng- Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 794/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và khiếu kiện Quyết định hành chính, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liên với đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1060/2024/QĐPT-HC ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Châu Mỹ Ú, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Tổ C, ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Châu M Ú là: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1968.

Địa chỉ: 6 đường B, khu phố D, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Vườn quốc gia P, tỉnh Kiên Giang.

Trụ sở cũ: Số A đường N, khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Trụ sở chính: ấp X, xã B, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1. Chức vụ: Giám đốc Vườn quốc gia P.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T1: Ông Hồ Đăng D, chức vụ: viên chức Phòng quản lý bảo vệ rừng và phát triển Vườn quốc gia tỉnh K.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân tỉnh K.

Địa chỉ: Số F đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lâm Minh T2. Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Quách Văn T3, chức vụ: Phó giám đốc Sở T10.

3.2. Ông Châu Văn N, sinh năm 1950.

Địa chỉ: Tổ C, ấp C xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1968.

Địa chỉ: 6 đường B, khu phố D, phường L, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

3.3. Bà Châu Mỹ T4, sinh năm 1985. (Con của ông N – bà Đ)

3.4. Ông Châu Thành L, sinh năm 1995. (Con của ông N – bà Đ)

3.5. Bà Châu Thị Thanh N1, sinh năm 1989. (Con của ông N, bà Đ)

3.6. Ông Châu Thành T5, sinh năm 1993. (Con của ông N, bà Đ)

3.7. Bà Châu Thị Mỹ H, sinh năm 1969. (Con của ông N, bà Đ)

3.8. Bà Châu Thị Mỹ N2, sinh năm 1979. (con của ông N, bà Đ)

3.9. Ông Châu Văn P, sinh năm 1971.(Con của ông N, bà Đ)

3.10. Ông Châu Văn P1, sinh năm 1981.(Con của ông N, bà Đ)

3.11. Bà Châu Thị Bé A, sinh năm 1988.(Con của ông N, bà Đ)

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

3.12. Ông Châu Văn Đ1, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Ấp Lê Bát, xã Cửa Cạn, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

4. Người làm chứng:

4.1. Bà Nguyễn Kim H1, sinh năm 1970

4.2. Ông Phù Văn H2, sinh năm 1959

4.3. Ông Nguyễn P2 (V) H3, sinh năm 1960

4.4. Ông Huỳnh Thanh S, sinh năm 1974

4.5. Ông Trần Châu S1, sinh năm 1968

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang

4.6. Ông Lý Văn T6, sinh năm 1958

Địa chỉ: Ấp 3, xã Cửa Cạn, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Nơi ở: Lô 16, đường Nguyễn Huy Tưởng, khu phố Lê Anh Xuân, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

4.7. Ông Võ Hải H4, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

(Các ông, bà: Bà Châu Mỹ Ú, ông Nguyễn Văn T1, ông Lâm Minh T2, ông Châu Văn N, bà Châu Mỹ T7, ông Châu Thành L, bà Châu Thị Thanh N1, ông Châu Thành T5, bà Châu Thị Mỹ H, bà Châu Thị Mỹ N2, ông Châu Văn P, ông Châu Văn P1, bà Châu Thị Bé A, ông Châu Văn Đ1, bà Nguyên Kim H5, ông Phù Văn H2, ông Nguyễn Phi H6, ông Huỳnh Thanh S, ông Trần Châu S1, ông Lý Văn T6, ông Võ Hải H4 vắng mặt tại phiên tòa. Ông Nguyễn Tấn T, ông Hồ Đăng D, ông Quách Văn T3 có mặt tại phiên tòa; tất cả những người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện bà Châu Mỹ Ú và đại diện của nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn T trình bày:

Nguyên lô đất nông nghiệp có diện tích 2.300m² thuộc thửa số 100 tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại tổ C, ấp C, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang có nguồn gốc do ông Châu Văn N, bà La Thị Đ2 (đã chết) khai phá từ năm 1977 và lập giấy cho bà Châu Mỹ Ú vào ngày 19/11/2003. Khi lập giấy có xác nhận của T8 ấp 3 và những người dân sống lân cận làm chứng xác nhận.

Sau khi nhận đất xong bà Ú quản lý, canh tác trồng tràm trên phần đất đó, không ai tranh chấp. Đến tháng 5/2015 tự nhiên cán bộ Vườn quốc gia P đến rào phần đất nói trên, bà Ú phản đối và tháo gỡ phần rào đó, đồng thời trình báo sự việc với Ủy ban nhân dân xã C, UBND xã C đã lập biên bản ghi nhận vấn đề này. Sau đó bà Ú làm đơn yêu cầu UBND xã giải quyết. Tuy nhiên U không thành. Trong quá trình hòa giải thì đại diện Vườn Quốc gia P4 xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 094150, số vào sổ CT 095524 do UBND tỉnh K cấp ngày 02/6/2016 cho Vườn quốc gia P4.

Việc UBND tỉnh K cấp giấy chứng nhận QSD đất cho Vườn quốc gia Phú Quốc trên phần diện tích đất của bà Ú là không đúng với thực trạng của người đang sử dụng đất, trái với quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ú vì phần đất này không liên quan gì đến đất của Vườn quốc gia P, không có công trình hay chốt kiểm lâm nào trên phần đất này, không giáp ranh, không gần với phần đất của Vườn quốc gia P mà nằm độc lập trong khu dân cư, là đất nông nghiệp có nguồn gốc rõ ràng mà bà Ú cùng các hộ xung quanh canh tác, sử dụng hơn 40 năm.

Hiện tại phần đất này bà Ú đang quản lý sử dụng nhưng Cán bộ vườn quốc gia Phú Quốc vẫn giữ ý kiến mặc dù không biết nguồn gốc đất nhưng đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh cấp thì đất này là của Vườn quốc gia P4, việc này làm ảnh hưởng nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của bà Ú.

Vì vậy bà Ú yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận 2.300m² đất thuộc thửa số 100 tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại tổ C, ấp C, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của bà Châu Mỹ Ú. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 094150, số vào sổ CT09524 do UBND tỉnh K cấp cho Vườn quốc gia Phú Quốc ngày 02/6/2016. Ước tính phần giá trị tranh chấp khoảng 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng. Yêu cầu hủy Quyết định số 1277/QĐ-UBND ngày 02/6/2016 của UBND tỉnh K về việc công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Vườn quốc gia P4 tại ấp C, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Hiện nay trên diện tích đất 2.300m² không có nhà ở và công trình xây dựng, chỉ có cây trồng do bà Châu M Ú trồng.

Tại đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ngày 07/5/2021 bà Châu Mỹ Ú trình bày: Yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất 1.964,9m² thuộc thửa đất số 100 tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại tổ C, ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Các phần còn lại của đơn khởi kiện vẫn giữ nguyên đối với diện tích đất theo số đo thực tế là: 335,1m², phần đất này không có tranh chấp.

*Bị đơn Vườn quốc gia P4 trình bày:

Vườn quốc gia P được UBND tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 094150, số vào sổ CT 09524, thửa đất số 100, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.300m² tại ấp C, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Nhưng bị ông Châu Văn N, sinh năm 1950, thường trú tổ 3 ấp C, xã C, huyện P vào cuốc mương làm ranh, chôn trụ rào và trồng cây để chiếm đất trái phép. Ngày 05/7/2018 bà Châu Mỹ Ú, sinh năm 1983 là con ruột của ông Châu Văn N làm đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 094150, số vào sổ CT 09524 do UBND tỉnh K cấp cho Vườn quốc gia P. UBND tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vườn quốc gia P4 để xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Châu Mỹ Ú, buộc bà Châu M Ú san lấp mương ranh và di dời toàn bộ trụ rào trồng cây, trả lại diện tích đất được cấp cho Vườn quốc gia P4 triển khai thực hiện xây dựng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì Vườn quốc gia P4 không đồng ý do Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vườn quốc gia P đã thực hiện đúng trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với việc nguyên đơn cho rằng trên đất có tràm do bên nguyên đơn trồng là do trước đây trên phần đất này có cây rừng, sau đó gia đình ông N thuê xe cuốc vào cuốc cây rừng để trồng tràm bị Ủy ban nhân dân xã C lập biên bản đình chỉ.

*Ủy ban nhân dân tỉnh K đã trình bày: (Bút Lục số 72 ngày 26/4/2019).

Nguồn gốc thửa đất số 100, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.300m² tại ấp C, xã C, huyện P do Nhà nước giao đất cho Vườn quốc gia Phú Quốc năm 2002 để xây dựng chốt dự báo cháy ấp C, có ranh giới rõ ràng, sử dụng đúng mục đích, ổn định không tranh chấp. Vị trí, ranh giới khu đất được xác định theo Tờ trích đo địa chính số 04/TĐĐC, tỷ lệ 1:1.000 do Công ty cổ phần Đ3 ngày 30/7/2014 được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh (Nay là Văn phòng Đ4) ký kiểm tra ngày 31/7/2014. Ngày 02/6/2016 Ủy ban nhân dân tỉnh B Quyết định số 1277/QĐ-UBND về việc công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CĐ 094150 ngày 02/6/2016 cho Vườn quốc gia P4. Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vườn quốc gia Phú Quốc là đúng theo quy định tại khoản 01 Điều 102, Điều 25 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Trong thời gian thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vườn quốc gia P4 không nhận được đơn ngăn chặn tạm thời đối với thửa đất trên. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C Mỹ Út thì Ủy ban nhân dân tỉnh K không đồng ý, do Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vườn quốc gia P4 đã thực hiện đúng trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

*Đại diện hợp pháp cho ông Châu Văn N là ông Nguyễn Tấn T trình bày:

Thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà Châu M Ú.

*Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Châu Mỹ T4, Châu Thị Bé A, Châu Thị Mỹ H, Châu Thị Thanh N1, Châu Thành T5, ông Châu Thành L, ông Châu Văn Đ1, ông Châu Văn P1, bà Châu Mỹ N2, ông Châu Văn P cùng trình bày tại bản tự khai: Cha chúng tôi là ông Châu Văn N, mẹ chúng tôi là bà La Thị Đ2 (đã chết). Năm 1977, cha mẹ chúng tôi khai phá lô đất nông nghiệp có diện tích khoảng hơn 2.000m² thuộc thửa số 100 tờ bản đồ số 01 lạc tại tổ C, ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Ngày 19/11/2003, bố mẹ chúng tôi đã lập giấy cho Châu M Út toàn bộ phần đất trên, khi lập giấy thì các thành viên trong gia đình chúng tôi đều biết và thống nhất, không ai có ý kiến gì cả, ngoài ra còn có sự xác nhận của trưởng ấp 3 và những người dân lân cận làm chứng nhận. Sau khi hoàn thành đất, bà Ú được quản lý, canh tác cây trồng trên phần đất đó, không ai tranh chấp. Đến tháng 5/2015, Vườn Quốc Gia P đến rào phần đất nói trên của bà Châu Mỹ Ú. Bà Châu M Ú phản đối và tháo gỡ phần rào đó, đồng thời báo sự việc với Ủy ban nhân dân xã C. Từ đó, Châu Mỹ Ú khởi kiện ra tòa án yêu cầu giải quyết. Chúng tôi nghĩ rằng phần đất đó cô Ú đã sử dụng hợp pháp, Vườn Quốc gia P tự nhiên đến tranh chấp là sai. Mong Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật công nhận phần đất trên cho bà Ú. Chúng tôi không thắc mắc hay khiếu nại gì.

Những người làm chứng:

*Các ông bà: Bà Nguyễn Kim H1, ông Phù Văn H2, ông Nguyễn Phi H6, ông Huỳnh Thanh S, ông Trần Châu S1 cùng trình bày như sau:

Các ông bà là người sống ở đây từ lâu. Các ông bà biết ông Châu Văn N và bà La Thị Đ2 khai phá từ năm 1977 phần đất thuộc số 100 tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại tổ C, ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang sau đó cho bà Châu M Ú canh tác sử dụng cho đến nay như đơn xin xác nhận nguồn gốc đất của bà Ú là đúng sự thật. Đất đó không phải là đất hoang. Đất này cũng không liên quan gì đến Vườn Quốc gia P4; đây không phải là đất của Vườn quốc gia P4, không có chốt kiểm tra nào trên đất đang tranh chấp. Đề nghị tòa án xử lý đúng luật.

*Ông Lý Văn Tó trình bày:

Theo đơn xin xác nhận nguồn gốc đất của ông Châu Văn N và vợ là La Thị Đ2, đơn ngày 19/02/2020 do ông Châu Văn N làm có sự xác xác nhận của tôi lúc đó là trưởng áp ký tên Lý Văn T6 và ông Nguyễn Phi H6; nội dung xác nhận của tôi “Ông Châu Văn N thường trú tại ấp C, xã C có khai khẩn và canh tác, trồng tiêu và đào giếng để tưới tiêu, sử dụng theo trong đơn đương sự đã trình bày là đúng sự thật là do tôi xác nhận. Về phần đất tranh chấp giữa vườn quốc gia với gia đình ông Châu Văn N, bà La Thị Đ2 và bà Ú thì tôi biết đó là đất của gia đình ông Châu Văn N khai phá và sử dụng từ trước đến nay tôi làm trưởng ấp từ năm 1986 nên tôi biết rõ về nguồn gốc đất trên. Tôi khẳng định đất nay là đất của gia đình ông Châu Văn N khai phá và sử dụng từ năm 1977 đến nay. Việc cấp giấy cho P4 là không đúng. Đến năm 2002 khi đó mới cắm ranh của vườn quốc gia Phú Quốc việc cặm ranh mốc của vườn quốc gia P4 cũng không liên quan gì tới đất của gia đình ông N. Đất của vườn quốc gia P cách xa 400-500m về phía trên núi còn đất của gia đình ông N nằm ở dưới đường.

*Ông Võ Hải H4 trình bày:

Đơn ngày 19/02/2020 do ông Châu Văn N làm đơn có sự xác nhận của trưởng ấp 3 vào ngày 22/02/2020 trưởng ấp là ông Lý Văn T6 và sự xác nhận của trưởng ấp Nguyễn Phi H6 trước đây vào ngày 22/01/2010. Trưởng ấp trước đây là ông Nguyễn Phi H6 đã chết. Còn phần đất tranh chấp giữa gia đìng ông Châu Văn N, bà La Thị Đ2 và bà Ú thì tôi biết chính xác đất đó là do gia đình ông Châu Văn N khai phá sử dụng cho đến nay theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Toà án mà lúc đó tôi có tham gia. Ngoài ra ông H6 không cung cấp thêm thông tin gì ông cho rằng ông chỉ biết sự thật là như thế.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DSST ngày 15-8-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang quyết định:

Áp dụng:

- Các Điều 100, 166, 173, 195, 196, 197, 203 Luật đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 164, Điều 166, Điều 182, Điều 184, Điều 221 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Điều 26; điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 34, các Điều 26; 34; 35; 37; 38; 39, Điều 227, khoản 1, 2 Điều 228 và Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Châu Mỹ Ú.
  2. Không chấp nhận lời khai nại của bị đơn Vườn Quốc gia P tỉnh Kiên Giang.
  3. Hủy Quyết định số 1277/QĐ-UBND ngày 02/6/2016 của UBND tỉnh K về việc công nhận quyền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Quyền sử dụng đất) cho Vườn Quốc gia P4 tại ấp C, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang để sử dụng vào mục đích xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp.;
  4. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang số CĐ 094150, số vào sổ CT09524 do UBND tỉnh K cấp cho Vườn Quốc Gia Phú Quốc ngày 02/6/2016; đối với phần đất liên quan đến diện tích đất là 1.964.9m²
  5. Công nhận phần diện tích đất 1.964,9m² thuộc thửa số 100 tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại tổ C, ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của bà Châu Mỹ Ú; bà Châu M Ú được quyền sử dụng diện tích đất và toàn bộ cây trồng có trên đất diện tích đất là 1.964.9m². Do bà Châu M Ú đang canh tác và sử dụng thực tế tại tờ bản đồ số 01: số thửa 100, theo hình vẽ tam giác 1,2,3 có chiều dài các cạnh và diện tích cụ thể như sau:
    • - Chiều ngang: Cạnh 1-3 giáp với đường đất là 98,12m.
    • - Chiều dài: + Cạnh 1-2 giáp với đất của ông Nguyễn Phước T9 là 99,78m.
    • + Cạnh 3-3 giáp với đất bà của bà Đinh Thúy P3 đang sử dụng là 49,52m.

    Với tổng diện tích theo số đo thực tế là: 1.964.9m².

    Cụ thể diện tích đất tranh chấp và tài sản trên đất như trên theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc thực tế đất ngày 19/7/2019 (Bút lục số 87 đến 92) của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang và theo sơ đồ tờ trích đo địa chính số TĐ 155-2019 ngày 29/8/2019 (Bút lục 95) của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ4 (Nay là thành phố P) tỉnh Kiên Giang.

    - Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở, xâm hại khi các bên đương sự thực hiện quyền sử dụng đất hợp pháp của mình theo quy định của Luật đất đai.

    - Khi án có hiệu lực pháp luật: Bà Châu Mỹ Ú được quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về đất đai làm thủ tục, thu hồi, cấp mới hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự theo quyết định của bản án, khi các đương sự có yêu cầu. Theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.

  6. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Châu M Ú đối với diện tích đất theo số đo thực tế là 335,1m².

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần tiền chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28-9-2023, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan là Ủy ban nhân dân tỉnh K có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh K vẫn giữ nguyên lời trình bày tại tòa cấp sơ thẩm và trình bày: trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vườn quốc gia P là đúng theo quy định. Trong thời gian thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vườn quốc gia không nhận được đơn ngăn chặn tạm thời đối với thửa đất. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Châu Mỹ Ú thì UBND tỉnh không đồng ý, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của UBND tỉnh.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Vườn quốc gia P4 trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Châu Mỹ Ú, chấp nhận đơn kháng cáo của UBND tỉnh K, sửa bản án dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Tấn T đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Châu Mỹ Ú và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm, không chấp nhận đơn kháng cáo của UBND tỉnh K.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự số 51/2023/DS-ST ngày 15/8/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và khiếu kiện quyết định hành chính, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, tòa diện chứng cứ ý kiến của Viện kiểm sát, của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về hình thức đơn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Ngày 28/9/2023, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân tỉnh K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

[1] Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ Điều 37, 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng thẩm quyền.

[2] Về tư cách người tham gia tố tụng: Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

[3] Về quan hệ tranh chấp: cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ tranh chấp.

[4] Nội dung: Nguyên đơn bà Châu M Ú cho rằng, nguồn gốc diện tích đất 1.964,9m² nằm trong diện tích đất 2.300m² thuộc thửa 100, tờ bản đồ số 1 tọa lạc tại tổ C, ấp C xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang mà hiện nay Ủy ban nhân dân tỉnh C giấy chứng nhận QSDĐ cho Vườn Quốc G Phú Quốc vào ngày 02/6/2016 là của cha mẹ bà Ú là ông Châu Văn N và bà La Thị Đ2 khai phá, sử dụng từ năm 1977, đến năm 2003 lập giấy cho đất bà Ú. Bà Ú tiếp tục canh tác và trồng tràm đến nay. Năm 2015, cán bộ Vườn Quốc Gia P đến rào đất, bà Ú đã phản đối và tháo dỡ hàng rào, báo với UBND xã C đã lập biên bản và giải quyết. Đến năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho Vườn quốc gia P4. Do đó, bà Ú khởi kiện yêu cầu công nhận diện tích 1.964,9m² cho bà; yêu cầu hủy quyết định số 1277/QĐ-UBND ngày 02/6/2016 của UBND tỉnh K; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 094150, số vào sổ CT09524 do UBND tỉnh K cấp cho Vườn quốc gia Phú Quốc ngày 02/6/2016.

Bị đơn Vườn quốc gia P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Ú, cho rằng đã được UBND tỉnh K cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CĐ 094150, thửa 100, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.300m² vào ngày 02/6/2016. Việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ là đúng trình tự, thủ tục.

Cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Ú1 với những căn cứ sau:

Thứ nhất, nguồn gốc đất tranh chấp: bà Ú1 khai nguồn gốc đất tranh chấp nằm trong tổng diện tích do cha là ông Châu Văn N mẹ là La Thị Đ2 khai phá từ năm 1977 để canh tác. Năm 2000, sang nhượng cho ông Nguyễn Văn H7 diện tích 8.000m², năm 2010, sang nhượng cho ông Nguyễn Phước T9 4.000m², còn lại 02 thửa: Thửa 1.700m² có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N đã cất nhà ở, còn thửa hơn 2.000m² (đo đạc thực tế 1.964,9m² ) chưa được cấp giấy thì ông NĐ2 đã làm giấy cho đất bà Ú1.

Theo chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện thì những người có đất giáp ranh với phần đất của bà Ú1 là bà Đinh Thúy P3 xác định: bà P3 là người sinh sống từ nhỏ tại ấp C, xã C và có đất giáp ranh với gia đình ông Châu Văn N, ông N canh tác sử dụng đất liên tục từ trước đến nay, sau đó cho lại bà Ú1 sử dụng, không phải đất của Vườn quốc gia P4. Ngoài ra còn có các ông Phù Văn H2, Nguyễn Văn H8, Trần Châu S1, Huỳnh Thanh S và bà Nguyễn Kim H1 cũng xác định: đất này là của gia đình ông N khai phá sử dụng từ năm 1977 đến nay. Đồng thời ông Lý Văn T6 nguyên là trưởng ấp 3 từ năm 1986 cũng xác định: đất của gia đình ông N khai phá từ năm 1977 sử dụng trồng hoa màu, sau đó khu đất này bị ngập nước vào mùa mưa nên nhiều gia đình đã chuyển sang trồng tràm đến nay.

Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện: Phần đất bà Ú1 đang tranh chấp nằm giữa đất của bà Đinh Thúy P3, kế đến là đất của ông T9 (trước đây ông N đã bán cho ông T9), kế đến là đất của ông N đang sử dụng có nhà ở phần tiếp giáp đất của ông N mới là đất của Vườn quốc gia có chốt kiểm lâm.

Về phía bị đơn là Vườn quốc gia P: không chứng minh được nguồn gốc đất là thuộc sự quản lý của đơn vị mình. Hiện tại cũng không biết ai là người đã trồng trọt trên phần đất mà Vườn quốc gia phú quốc được UBND tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, có căn cứ xác định nguồn gốc đất của gia đình ông Châu Văn N khai phá, sử dụng từ năm 1977.

Thứ hai, trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vườn quốc gia P không đúng với trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, bởi lẽ: trước khi được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì vào năm 2015 khi tiến hành đo đạc trên phần đất (đang tranh chấp) để làm thủ tục cấp giấy chứng QSDĐ thì xảy ra tranh chấp với gia đình bà Ú1. Việc tranh chấp được thể hiện theo các biên bản của UBND xã C lập vào các ngày 05/5/2015, ngày 16/5/2015 và ngày 27/05/2015. Như vậy phần đất này trước khi cấp giấy đã xảy ra tranh chấp với gia đình bà Ú1 nhưng chưa giải quyết tranh chấp dứt điểm vào năm 2015 thì đến năm 2016 UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho Vườn quốc gia P4. Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ khi đất đang tranh chấp là không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Đất đai. Như vậy, việc UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Vườn quốc gia P4 mà không xem xét thực địa về hiện trạng sử dụng, nguồn gốc, ai là người đang quản lý sử dụng là không đảm bảo đúng trình tự, thủ tục xét cấp, là sai với quy định của pháp luật.

Thứ ba, xét thấy việc cấp giấy chứng QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Vườn quốc gia P4 xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp phải xuất phát từ nhu cầu thực tế trên cơ sở đất thuộc sự quản lý, sử dụng của Vườn quốc gia P. Trong trường hợp cần thiết (cấp thiết) phải cấp đất cho Vườn quốc gia P4 xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp nhưng không thuộc sự quản lý, sử dụng của Vườn Quốc gia P mà thuộc sự quản lý, sử dụng của tổ chức, cá nhân khác thì phải xem xét thu hồi, lập phương án bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành, có như vậy mới thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[5] Nhận định của Hội đồng xét xử: Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử phù hợp theo quy định của pháp luật và tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo nhưng không đưa ra được những chứng cứ khác ngoài những chứng cứ đã thu thập ở cấp sơ thẩm nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và giữ nguyên bản án sơ thẩm phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí dân sự phúc thẩm: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân tỉnh K

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 15/8/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và khiếu kiện quyết định hành chính, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc Ủy ban nhân dân tỉnh K phải 300.000 đồng nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0003337 ngày 05-10-2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND CC tại TP Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - Các đương sự (6);
  • - Lưu VP 5 HS 1 (DTTP 18 bản)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Yên

Các thẩm phán

Hoàng Thanh Dũng

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Phan Văn Yên

Phan Tô Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 811/2024/DS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và khiếu kiện quyết định hành chính, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liên với đất

  • Số bản án: 811/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và khiếu kiện Quyết định hành chính, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liên với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger