Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 811/2024/KDTM-ST

Ngày: 10-5-2024

V/v: Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Chu Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
  2. Bà Hồ Thị Lang

Thư ký phiên toà:Bà Trần Thị Thanh Trân - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai và tuyên án đối với vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 1884/2023/TLST-KDTM ngày 01/11/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-KDTM ngày 02/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2024/QÐST-KDTM ngày 23/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV A

Trụ sở: F Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thu T (có mặt)

Bị đơn: Công ty TNHH K

Trụ sở: Căn hộ số 15.15 (15OT09) The Park 7 Chung cư V, số G Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn T1-Giám đốc (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 10 năm 2023, bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn – Công ty TNHH MTV A có bà Nguyễn Thu T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 18/01/2021, Công ty TNHH MTV A (gọi tắt là Công ty A) và Công ty TNHH K1 sau đó đổi tên thành Công ty TNHH K (gọi tắt là Công ty K) có ký Hợp đồng dịch vụ giám sát an toàn lao động tại công trình xây dựng số 18012021/ATLĐ/NL-BSB. Theo nội dung hợp đồng, Công ty A đồng ý cung cấp dịch vụ giám sát an toàn công trình xây dựng cho Công ty K, số lượng 01 người, đơn giá 14.000.000đồng/01 vị trí đã bao gồm thuế giá trị gia tăng, địa điểm giám sát tại Công trình nhà xưởng tiêu chuẩn B tại địa chỉ đường N, Khu công nghiệp Đ, xã B huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hai bên cũng thống nhất về phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán, vào đầu mỗi tháng Công ty A sẽ gửi hồ sơ thanh toán cho Công ty K, trong hạn 10 ngày kể từ ngày Công ty K xác nhận đã nhận đủ hồ sơ thanh toán từ Công ty A thì Công ty K phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty A nhưng không quá ngày 10 trong tháng đó.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty A đã bàn giao đầy đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán cho Công ty K từ tháng 01/2021 đến tháng 05/2021, tuy nhiên cho đến nay Công ty K vẫn chưa hoàn tất nghĩa vụ thanh toán cho Công ty A.

Tính đến nay, Công ty K còn nợ Công ty A số tiền dịch vụ của tháng 4/2021 và từ ngày 01/5 đến ngày 06/5 chưa thanh toán là 24.235.096đồng, nguyên đơn đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng và gửi kèm hồ sơ đề nghị thanh toán cho phía bị đơn, cụ thể hóa đơn số 0000767 ngày 29/04/2021 số tiền phải thanh toán là 21.323.077đồng hóa đơn số 0000837 ngày 08/5/2021 số tiền phải thanh toán là 2.961.539đồng.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thanh toán tổng số tiền tổng cộng là: 25.006.579đồng, trong đó nợ gốc là 24.235.096đồng và 771.483đồng tiền lãi tính từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/5/2024 (06 tháng 11 ngày) theo mức lãi suất 6%/năm .

Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn – Công ty TNHH K do ông Nguyễn Văn T1 – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty: Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án đã tiến hành thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự đối với bị đơn. Cụ thể: tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập lên tòa án làm bản tự khai vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 22/3/2024 và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 29/3/2024 cho bị đơn, phía bị đơn có văn thư trực tiếp ký nhận tất cả các văn bản, thông báo của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do bị đơn vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp của bị đơn – Công ty TNHH K vắng mặt không có lý do.

Phần tranh luận: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không phát biểu ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Công ty TNHH MTV ACông ty TNHH K (tên cũ Công ty TNHH K1) là tranh chấp Hợp đồng cung ứng dịch vụ. Căn cứ khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là loại vụ việc tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn – Công ty TNHH K có trụ sở và hiện đang hoạt động kinh doanh tại địa chỉ Căn hộ S (15OT09) The Park 7 Chung cư V, số G Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ người đại diện hợp pháp của phía bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 23/4/2024 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 10/5/2024, nhưng người đại diện hợp pháp của phía bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án này thuộc trường hợp không có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

[3.1] Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là 24.235.096đồng:

Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 18/01/2021 nguyên đơn và bị đơn đã cùng nhau kết Hợp đồng dịch vụ giám sát an toàn lao động tại công trình xây dựng số 18012021/ATLĐ/NL-BSB. Ngày 29/4/2021 và ngày 08/5/2021, nguyên đơn đã bàn giao đầy đủ hồ sơ, chứng từ đề nghị thanh toán cùng 02 hóa đơn giá trị gia tăng số 0000767 ngày 29/04/2021 và số 0000837 ngày 08/5/2021 cho bị đơn, nhưng từ đó đến nay phía bị đơn vẫn chưa thanh toán số tiền dịch vụ tổng cộng 24.235.096đồng cho nguyên đơn mặc cho nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho phía bị đơn trả nợ. Căn cứ vào điểm d Điều 4 của Hợp đồng dịch vụ giám sát an toàn lao động tại công trình xây dựng số 18012021/ATLĐ/NL-BSB mà hai bên đã ký kết ngày 18/01/2021 có quy định: “Vào đầu mỗi tháng Công ty A sẽ gửi hồ sơ thanh toán cho Công ty K, trong hạn 10 ngày kể từ ngày Công ty K xác nhận đã nhận đủ hồ sơ thanh toán từ Công ty A thì Công ty K phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty A nhưng không quá ngày 10 trong tháng đó”. Như vậy, việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của phía bị đơn trong thời gian dài đã xâm phạm đến quyền và lợi ích của phía nguyên đơn được pháp luật bảo vệ.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn – Công ty TNHH K phải thanh toán số tiền nợ gốc tổng cộng 24.235.096đồng cho nguyên đơn một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận và phù hợp với quy định tại Điều 85 của Luật Thương mại 2005.

[3.2] Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi do chậm thanh toán là 771.483đồng (tính từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/5/2024 là 06 tháng 11 ngày) theo mức lãi suất 6%/năm:

Xét thấy, theo quy định tại Điều 4 của Hợp đồng thì bị đơn có trách nhiệm thanh toán 100% phí dịch vụ nguyên đơn trong hạn 10 ngày kể từ ngày nguyên đơn hoàn tất việc bàn giao chứng từ đề nghị thanh toán và hóa đơn giá trị gia tăng cho phía bị đơn. Ngày 29/4/2021 và ngày 08/5/2021, nguyên đơn đã hoàn tất việc bàn giao chứng từ đề nghị thanh toán cho phía bị đơn, tuy nhiên cho đến nay phía bị đơn vẫn chưa thanh toán số tiền 24.235.096đồng cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền lãi do chậm thanh toán là phù hợp quy định tại Điều 306 Luật Thương mại nên có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ vào án lệ số 09-2016 về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường bằng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba Ngân hàng tại địa phương tại thời điểm thanh toán (xét xử sơ thẩm). Do đó Hội đồng xét xử xác định mức lãi suất chậm thanh toán theo mức lãi suất quá hạn trung bình thấp nhất của các Ngân hàng C (6.3%/năm), Ngân hàng TMCP N (6.4%), Ngân hàng TMCP Đ (6.49%) là 6.4% x 150% = 9.6%/năm. Nguyên đơn chỉ yêu cầu mức lãi suất 6%/năm là thấp hơn mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường và chỉ yêu cầu tính lãi trong khoảng thời gian từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/5/2024, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và không trái quy định tại Điều 306 Luật Thương mại và có lợi cho bị đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Cụ thể lãi do chậm thanh toán như sau: 24.235.096đồng x 6%/năm x 6 tháng 11 ngày = 771.483đồng.

[4] Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 3.000.000đồng (Ba triệu đồng).

Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 74, Điều 85, Điều 87 và Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;

Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty TNHH Một thành viên A.

Buộc Công ty TNHH K2 cấp Thép 3A phải thanh toán cho Công ty TNHH Một thành viên A số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ giám sát an toàn lao động tại công trình xây dựng số 18012021/ATLĐ/NL-BSB ngày 18/01/2021 tổng cộng là 25.006.579đồng (Hai mươi lăm triệu không trăm lẻ sáu nghìn năm trăm bảy mươi chín đồng), trong đó bao gồm 24.235.096đồng tiền nợ gốc và 771.483đồng tiền lãi tính từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/5/2024.

Phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán : Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên hhi hành án tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2. Về án phí kinh doanh thương mại:

Công ty TNHH K2 cấp Thép 3A phải chịu án phí KDTM sơ thẩm là 3.000.000đồng (Ba triệu đồng).

H lại số tiền tạm ứng án phí 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho Công ty TNHH Một thành viên A theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0028699 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo: Công ty TNHH Một thành viên A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày truyên án. Công ty TNHH K2 cấp Thép 3A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q. Bình Thạnh, TP.HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 811/2024/KDTM-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 811/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger