Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 810/2024/DS-PT

Ngày: 16 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tặng

cho quyền sử dụng đất, quyền sở

hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền

với đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Út
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh
Ông Phan Nguyên Nguyên
Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hỷ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 06 và ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 648/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1167/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4773/2024/QĐPT-LÐ ngày 22/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đào Thái C, sinh năm 1944; Cư trú tại: B X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lại Thị L – Luật sư thuộc Trung tâm T5 – Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: 1 đường B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn:

  1. Bà Đào Thi T, sinh năm 1996 (xin vắng mặt);
  2. Bà Đào Thái L1, sinh năm 1999 (xin vắng mặt);
  3. Bà Đào Thái Cát T1, sinh năm 2002 (có mặt);

Cùng địa chỉ: B X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đào Thị Bạch T2, sinh năm 1962; Cư trú tại: B X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  2. Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: B N, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đào Thị Hoàng A, sinh năm 1985; Địa chỉ: B N, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy uỷ quyền ngày 06/9/2024 của Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh) (xin vắng mặt).

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đào Thái C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Đào Thái C trình bày:

Ngày 12/9/2020, ông và bà T2 có ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng 17413 quyển số 9 TP/CC-SCC/HĐTC ký ngày 12/9/2020 để tặng cho nhà đất tọa lạc tại địa chỉ B X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho các con là Đào Thi T, Đào Thái L1, Đào Thái Cát T1. Ý nguyện của ông là tặng cho quyền sử dụng không phải là tặng cho quyền sở hữu đối với ½ nhà đất nêu trên cho các con nhưng bà T2 và các con đã lừa dối ông trong lúc bệnh tật không minh mẫn và đã đưa giấy cho ông ký tặng cho toàn bộ tài sản trên. Sau khi tặng cho tài sản xong, bà T2 và các con đã gây khó khăn, cưỡng bức tinh thần nhằm đuổi ông ra khỏi căn nhà trên. Hiện ông bệnh tật thường xuyên do di chứng của chiến tranh, đi lại tuổi già sức yếu và không còn bất kỳ tài sản nào khác. Hợp đồng tặng cho này không có điều kiện ràng buộc bên B là bên được tặng cho tài sản phải có nghĩa vụ chăm sóc nuôi nấng bên A là cha ruột là bên cho tài sản, lúc cha đã già cả không còn sức lao động, lúc cha bệnh tật ốm đau phải lo thuốc men, cơm cháo, nâng đỡ cha già tỏ lòng biết ơn phụng dưỡng. Tại trang 5: Lời chứng của công chứng viên ghi rõ 2 lần tại dòng 30 và 31 (đếm từ trên xuống) là “Hợp đồng dự thảo” là hợp đồng giả, không minh bạch nhưng vẫn được chứng nhận sao đúng với bản lưu tại phòng C2 có số hiệu 032060 ngày 22/11/2021, như vậy, hợp đồng dự thảo và hợp đồng lưu đều là giả, không hợp lệ. Ông và các con không được đọc, xem hợp đồng viết gì nhưng 03 con răm rắp viết nhanh như máy “Chúng tôi đã đọc và đồng ý ký tên”, chẳng khác nào bà T2 và 03 con đã hoàn thành một sự dối trá có chủ đích. Do chờ đợi quá lâu, từ sáng tới trưa, khi được kêu ký tên lăn tay, ông xây xẩm mặt mày hoa mắt, bồn chồn do bị bệnh tim mạch, động mạch vành, thiếu minh mẫn sáng suốt ký đại.

Từ những lý do trên, ông yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho nhà ký ngày 12/9/2020 số công chứng 17413 quyển số 09 TP/CC-SCC/HĐGD tại phòng C2 do bị bà T2 và 03 con là bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1 lừa dối.

Ông xác định ông đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00997 ngày 06/9/2013 do Ủy ban nhân dân quận B cấp, cập nhật sang tên cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1 ngày 06/11/2020, ngoài ra ông không còn giữ giấy tờ nào khác liên quan đến căn nhà trên. Từ sau khi ký hợp đồng tặng cho, các con trở mặt coi ông như người dưng, luôn vô lễ, mắng mỏ, bất hiếu với ông, vi phạm đạo đức xã hội. Ông không có điều kiện am hiểu hợp đồng tặng cho có điều kiện và hợp đồng tặng cho không điều kiện.

Ngày 10/8/2023, ông thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau ông yêu cầu tuyên hủy phần tài sản của ông đã tặng cho 03 con là bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1 được Phòng C2 chứng nhận ngày 12/9/2020 trong khối tài sản chung với bà T2 là nhà đất tại B X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh do bị lừa dối, ông không tranh chấp đối với phần tài sản của bà T2 trong khối tài sản chung là nhà đất nêu trên đã tặng cho các con, đồng thời, ông xác định người bị kiện là bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị Bạch T2.

Ông vẫn giữ ý kiến đã trình bày và bổ sung ý kiến tại đơn điều chỉnh đơn khởi kiện ngày 10/8/2023 (về việc yêu cầu thay đổi nội dung khởi kiện ngày 17/6/2022).

Đối với tầng lửng đã có cơi nới, kết cấu sắt và kính khác so với hiện trạng tầng lửng đã được Ủy ban nhân dân quận B công nhận tại giấy chứng nhận số CH00997 cấp ngày 06/9/2013 theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/10/2023 thì ông không có ý kiến và tranh chấp.

Bị đơn bà Đào Thi T trình bày: Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bà có yêu cầu phản tố là nguyên đơn phải giao trả lại toàn bộ hồ sơ, giấy tờ liên quan đến nhà đất tọa lạc tại số B X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hợp đồng tặng cho bản chính, giấy đóng thuế trước bạ, bản vẽ ...) cho bà để không bị gây cản trở trong cuộc sống, sinh hoạt.

Bị đơn bà Đào Thái Cát T1 trình bày: Việc cha mẹ cùng lên Phòng C2 ký hợp đồng tặng cho là tự nguyện. Những sự việc như cha của bà - ông C trình bày là không đúng, các bà không có thái độ vô lễ hay bất hiếu với ông C, những lần ông C đánh mắng chị em bà thì có báo lên Công an P, quận B. Trong thời gian chị L1 có thai, ông C còn xô xát với chị và cũng có báo lên Công an P nhưng công an nói là việc nhà nên không lập biên bản. Chỉ có lúc ông C cầm chổi đánh chị Thi T là có lập biên bản nhưng bà không đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ trên. Chính cha mới là người có những hành vi không phù hợp với mẹ con và hàng xóm xung quanh. Hàng xóm cũng nhiều lần phản ánh về hành vi không đúng của ông C. Những lần xảy ra xô xát, các bà chỉ che chắn và bỏ đi, không có hành vi gì khác với ông C. Tất cả những hành vi của ông C thì hàng xóm và Công an Phường đều biết. Nay bà có cùng ý kiến với bà Thị T là không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông C và đồng ý với yêu cầu phản tố của bà Đào Thi T buộc ông C phải giao trả lại toàn bộ hồ sơ, giấy tờ liên quan đến Nhà đất tọa lạc tại số B X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hợp đồng tặng cho bản chính, giấy đóng thuế trước bạ, bản vẽ ...).

Bị đơn bà Đào Thái L1 trình bày: Bà thống nhất với ý kiến của bà Đào Thi T, bà Đào Thái Cát T1, bà có đơn xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử của Toà án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị Bạch T2 trình bày: Việc ông C nói các con đối xử tồi tệ và bạo hành ông là không có. Từ trước tới giờ bà không hề lừa dối ông C bất cứ vấn đề gì. Ông C luôn có những lời nói, hành vi không phù hợp, để hàng xóm phản ánh. Bà và các con không có bỏ bê ông C, chính ông C là người tự cách ly với vợ con. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, có cùng ý kiến với bà Đào Thi T và không có ý kiến gì đối với việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bà Đào Thi T. Những gì ông C trình bày là không đúng sự thật, giấy xác nhận và cam kết ngày 20/6/03 là do ông Cát T3 viết, ký tên, việc tặng cho là hai bên tự nguyện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến trình bày: Việc công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy định của pháp luật, có căn cứ pháp lý và trên cơ sở ý chí tự nguyện của các bên thể hiện tại thời điểm yêu cầu công chứng. Việc nguyên đơn nại ra rằng mình không biết hay bị lừa dối là không hợp lý, không bên nào có yêu cầu gì về việc đưa điều kiện vào hợp đồng tặng cho nên công chứng viên đã soạn thảo theo đúng ý chí và yêu cầu mà các bên thể hiện tại thời điểm công chứng. Cụm từ “dự thảo hợp đồng” tại vị trí đó của lời chứng theo Mẫu của Bộ tư pháp là hợp lý, bởi vì tại thời điểm các bên đọc văn bản thì đó mới chỉ là “dự thảo hợp đồng” chưa được các bên ký kết. cho nên, khi các bên đọc và đồng ý là đọc và đồng ý với “dự thảo hợp đồng”. Trên cơ sở quy định pháp luật và những trình bày trên, Phòng C2 đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án làm việc, hòa giải, xét xử cũng nhưng trong các buổi đối chất, công khai chứng cứ tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm 1167/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

  • Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – ông Đào Thái C về việc tuyên hủy một phần hợp đồng tặng cho là phần tài sản của ông Đào Thái C đã tặng cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1 được phòng C2 chứng nhận số 17413 quyển số 9 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 12/9/2020.
  • Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn – bà Đào Thi T
  • Buộc nguyên đơn phải giao trả lại cho bị đơn bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00997 ngày 06/9/2013 do Ủy ban nhân dân quận B cấp, được cập nhật đăng ký biến động ngày 06/11/2020 cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1.
  • Trường hợp ông C không giao trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên, bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, Đào Thái Cát T1 được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
  • Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 03/7/2024, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Đào Thái C và người bảo vệ quyền và lợi ích của ông C trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Yêu cầu bổ sung: Tuyên bố hợp đồng tặng cho được Phòng C2 chứng nhận số 17413 quyển số 9 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 12/9/2020 vô hiệu; Hủy cập nhật Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00997 ngày 06/9/2013 do Ủy ban nhân dân quận B cấp, được cập nhật đăng ký biến động ngày 06/11/2020 cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1; Kiến nghị với Ủy ban nhân dân quận B đối với giấy ủy quyền của ông C và bà T2 ngày 12/9/2020.

Bị đơn bà Đào Thi T trình bày: Án sơ thẩm xử bị đơn không kháng cáo, bà Thi T không đồng ý kháng cáo của ông C do bà vẫn luôn chăm sóc ông C và chở ông C đi khám bệnh từ trước đến nay nhưng gần đây ông C luôn cố tình cách ly với mọi người trong nhà. Do đó, bà Thi T yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn bà Đào Thái Cát T1 trình bày: Án sơ thẩm xử bị đơn không kháng cáo, bà T1 không đồng ý kháng cáo của ông C do bà T2 và chị em bà T1 vẫn luôn chăm sóc ông C1 nhưng do ông C luôn cố tình cách ly mọi người trong nhà. Do đó, bà T1 yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị Bạch T2 trình bày: Án sơ thẩm xử bị đơn không kháng cáo, bà T2 yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật. Đơn kháng cáo của đương sự nằm trong hạn luật định nên hợp lệ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 1167/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1]. Về tố tụng:

Kháng cáo của nguyên đơn ông Đào Thái C trong hạn luật định phù hợp khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Xét sự có mặt của các đương sự: Bị đơn bà Đào Thi T; bà Đào Thái Li L2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh có người đại diện theo uỷ quyền là bà Đào Thị Hoàng A có đơn xin vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Tại đơn khởi kiện của ông Đào Thái C yêu cầu: Hủy một phần hợp đồng tặng cho là phần tài sản của ông Đào Thái C đã tặng cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1 được Phòng C2 chứng nhận số 17413 quyển số 9 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 12/9/2020.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông C yêu cầu bổ sung: Tuyên bố hợp đồng tặng cho được Phòng C2 chứng nhận số 17413, quyển số 9 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 12/9/2020 vô hiệu; Hủy cập nhật Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00997 ngày 06/9/2013 do Ủy ban nhân dân quận B cấp, được cập nhật đăng ký biến động ngày 06/11/2020 cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1; Kiến nghị với Ủy ban nhân dân quận B đối với giấy ủy quyền của ông C và bà T2 ngày 12/9/2020.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.”

Do đó, không có cơ sở xem xét các yêu cầu trên tại phiên tòa phúc thẩm của nguyên đơn.

2. Về nội dung:

* Đối với yêu cầu kháng cáo: Hủy một phần hợp đồng tặng cho là phần tài sản của ông Đào Thái C đã tặng cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1 được Phòng C2 chứng nhận số 17413 quyển số 9 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 12/9/2020 và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn:

  • - Về nguồn gốc nhà đất: Căn cứ văn bản số 800/UBND-TNMT ngày 10/3/2023 của Ủy ban nhân dân quận B thì vào tháng 8/1994, bà Nguyễn Thị L3 và ông Trần Công T4 chuyển nhượng nhà đất 294/22/1E (số cũ 2) X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Đào Thái C và bà Đào Thị Bạch T2. Năm 1999, ông C, bà T2 kê khai nguồn gốc mua của bà Nguyễn Thị L3 bằng giấy tay năm 1994. Tháng 8/2003, ông C nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đối với nhà đất nêu trên và ngày 23/8/2004, Ủy ban nhân dân quận B cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 2651/2004 cho ông C, bà T2. Ngày 06/9/2013, Ủy ban nhân dân quận B cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00997 cho ông C, bà T2 và căn cứ đơn điều chỉnh đơn khởi kiện ngày 10/8/2023 (về việc yêu cầu thay đổi nội dung khởi kiện ngày 17/6/2022) của ông C, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, có cơ sở xác định, nhà đất 294/22/1E (số cũ 2) X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản chung của ông Đào Thái C và bà Đào Thị Bạch T2.
  • - Về Hợp đồng tặng cho: Vào ngày 12/9/2020, ông C, bà T2 tặng cho nhà đất nêu trên cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1 và bà Đào Thái Cát T1 theo Hợp đồng tặng cho số 17413 do Phòng C2 chứng nhận. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B đã cập nhật đăng ký biến động ngày 06/11/2020 tại trang 3 của Giấy chứng nhận.

Như vậy, việc tặng cho đã được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực là đúng về mặt hình thức theo quy định tại khoản 2 Điều 119 và khoản 1 Điều 459 Bộ luật dân sự.

Xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thể hiện đối tượng của hợp đồng là “toàn bộ căn nhà và quyền sử dụng đất số B X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh” và tại trang 3 bên B (bên được tặng cho) cam kết “Thực hiện các nghĩa vụ đối với bên tặng cho (nếu có)”.

Việc phía nguyên đơn cho rằng là kịch bản của bà T2, ông C đứng ở ngoài Phòng C2, bà T2 ép ông ký nhưng ông C không chứng minh việc bà T2 ép buộc ông ký. Tại thời điểm công chứng hợp đồng, các bên đã “tự đọc lại hợp đồng này, đã hiểu và đồng ý tất cả các điều khoản khi trong Hợp đồng và ký vào hợp đồng này trước sự có mặt của công chứng viên”, có ký tên trên mỗi trang và lăn tay điểm chỉ vào hợp đồng. Bên cạnh đó, để tránh sự nhầm lẫn, tại dòng thứ 1, 2, 5 từ dưới lên trang 2 của Hợp đồng tặng cho còn in đậm “Bên A tặng cho Bên B toàn bộ căn nhà và quyền sử dụng đất” và đối tượng tặng cho “B X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh”. Ngoài ra, cùng với việc ký kết hợp đồng tặng cho, ngày 12/9/2020, các bị đơn có giấy ủy quyền cho ông C và bà T2 được thay mặt bị đơn liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để nộp, nhận, rút hồ sơ kê khai, ký tên trên tờ khai và nhận thông báo thuế, đóng các loại thuế, phí, lệ phí, trích lục các giấy tờ có liên quan, xác định vị trí, điều chỉnh sai sót (nếu có), nộp và nhận hồ sơ đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, cấp đổi chủ quyền đối với căn nhà và quyền sử dụng đất nêu trên. Ông C đã tự mình thực hiện các công việc ủy quyền nên buộc phải biết về quyền, nghĩa vụ, ý nghĩa hậu quả của Hợp đồng tặng cho và nếu có sự nhầm lẫn, lừa dối, trái với ý chí của nguyên đơn thì nguyên đơn hoàn toàn có đủ thời gian để nộp văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ hợp đồng tặng cho trước khi đăng ký quyền sở hữu theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng tặng cho. Do vậy, việc công chứng hợp đồng đã được thực hiện đúng theo quy định của Luật Công chứng.

Căn cứ Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật đất đai” và Điều 12 Luật nhà ở năm 2014 quy định “Trường hợp góp vốn, tặng cho, đổi nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu là kể từ thời điểm bên nhận góp vốn, bên nhận tặng cho, bên nhận đổi nhận bàn giao nhà ở từ bên góp vốn, bên tặng cho, bên đổi nhà ở”. Theo khoản 3 Điều 167 và điểm a khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai 2013“Trường hợp không có thỏa thuận cụ thể về việc giao đất, thì thời hạn chính là thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký biến động đất đai”. Tại phiên tòa, các bên đều xác định, hiện nay nguyên đơn, bị đơn đều đang cùng cư trú tại nhà và đất nêu trên, mối quan hệ giữa bên tặng cho và bên được tặng cho là cha, mẹ, con, không thể có thỏa thuận cụ thể về thời điểm giao nhận nhà, đất, vì vậy ngày 06/11/2020, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận B cập nhật đăng ký biến động trên giấy chứng nhận được xác định là thời điểm chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà có hiệu lực.

Xét nội dung và hình thức của Hợp đồng tặng cho số 17413 do Phòng C2 chứng nhận ngày 12/9/2020 đã đảm bảo các điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm ông C thừa nhận giữ bản chính giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên hủy một phần hợp đồng tặng cho là phần tài sản của nguyên đơn đã tặng cho bị đơn được Phòng C2 chứng nhận ngày 12/9/2020 và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn buộc nguyên đơn phải giao trả lại cho bị đơn bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00997 ngày 06/9/2013 do Ủy ban nhân dân quận B cấp, được cập nhật đăng ký biến động ngày 06/11/2020 cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1 là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở chấp nhận.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đào Thái C thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 148; Điều 227; Điều 273; Điều 293; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 117, 119, 457, 459, 503, 164 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 167 và điểm a Khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai 2013

Căn cứ Luật Công chứng năm 2014;

Căn cứ vào Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án năm 2008;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Đào Thái C.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 1167/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Thái C về việc tuyên hủy một phần hợp đồng tặng cho là phần tài sản của ông Đào Thái C đã tặng cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1 được Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số 17413 quyển số 9 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 12 tháng 9 năm 2020.
  4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đào Thị T.
  5. Buộc nguyên đơn phải giao trả lại cho bị đơn bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00997 ngày 06 tháng 9 năm 2013 do Ủy ban nhân dân quận B cấp, được cập nhật đăng ký biến động ngày 06 tháng 11 năm 2020 cho bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1.
  6. Trường hợp ông Đào Thái C không giao trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên, bà Đào Thi T, bà Đào Thái L1, bà Đào Thái Cát T1 được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
  7. Về án phí:
    • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đào Thái C thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí Tòa án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • - H lại cho bà Đào Thi T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0018711 ngày 08 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Đào Thái C được miễn.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Toà án nhân dân quận Bình Thạnh ;
  • - Cục Thi hành án dân sự TP. HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, TP. HCM;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: Vp, Hs (T18).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 810/2024/DS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

  • Số bản án: 810/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger