TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 81/2024/HS-ST Ngày 31 - 10 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Xuân Vợi.
Bà Nguyễn Thị Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trường Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/HSST-QĐ, ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1987 tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Đặng Thị S (đã chết); họ và tên chồng: Võ Tiến Đ; có 03 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Bị hại: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1994; nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Võ Tiến Đ, sinh năm 1980; nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- + Anh Võ Văn P, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ, ngày 11/6/2024, anh Võ Tiến Đ đưa lúa ra phơi ở khu vực tuyến đường xóm và trước cổng nhà của chị Phạm Thị T thì chị Phạm Thị T nói: “Tại sao trước cửa cổng nhà anh anh không phơi, lại phơi trước cửa cổng nhà em”, anh Võ Tiến Đ trả lời: “Đường này là đường của tập thể, không phải đường riêng của nhà em”. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, chị Phạm Thị T dùng chổi quét rác từ trong sân nhà mình ra trước cổng tại vị trí mà anh Võ Tiến Đ đã phơi lúa. Lúc này, Nguyễn Thị H (vợ của anh Võ Tiến Đ) đang cào lúa nhìn thấy và nói với chị Phạm Thị T: “Mi quét mô thì quét quyền mi, nhưng hất rác vô lúa của tau là không được mô” thì chị Phạm Thị T nói: “Loại mi phơi lúa ngu, phơi lúa không có ý thức, mi phơi được thì tau cũng quét được, mi mần chi tau, tau hại mi à”. Nghe vậy, Nguyễn Thị H cầm cán cào lúa làm bằng thân tre màu vàng, dài 140 cm, đường kính 4 cm tiến về phía chị Phạm Thị T rồi dùng cán cào lúa đánh theo hướng từ trên xuống dưới vào người chị Phạm Thị T thì chị Phạm Thị T đưa tay trái ra đỡ nên bị đánh trúng ngón thứ II của bàn tay trái. Sau đó, chị Phạm Thị T dùng cán chổi đót màu vàng, dài 70 cm, đường kính 3 cm đang cầm trên tay phải đánh lại Nguyễn Thị H trúng vào vùng cổ. Nguyễn Thị H tiếp tục dùng cán cào lúa đánh vào người chị Phạm Thị T thì chị Phạm Thị T tiếp tục đưa tay lên đỡ rồi dùng cán chổi đánh trúng cẳng tay của Nguyễn Thị H. Nguyễn Thị H và Phạm Thị T tiếp tục giằng co, cào cấu người nhau đến khi thấy chị Phạm Thị T bị chảy máu ở tay trái và Nguyễn Thị H bị xây xát ở vùng cổ, vai trái thì hai người dừng lại.
Tại Bản kết luận giám định số 385/KLTTCT-TTPY ngày 30/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Một sẹo vết thương trùng sẹo phẫu thuật trước khớp đốt 1-2 ngón II bàn tay bên trái.
- Gãy xương đốt 2 ngón II bàn tay bên trái và trật khớp đốt 1-2 ngón II bàn tay bên trái đã phẫu thuật kết hợp xương.
2. Kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Thị T tại thời điểm giám định là: 02% (hai phần trăm).
- Kết luận khác: Hiện tại khớp đốt 1-2 ngón II bàn tay bên trái còn phương tiện kết hợp xương nên chưa đánh giá được mức độ ảnh hưởng vận động các khớp ngón II. Đề nghị giám định bổ sung sau khi sau khi tháo phương tiện kết hợp xương 01 tháng”.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 474/KLTTCT-TTPY ngày 09/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Một sẹo vết thương trùng sẹo phẫu thuật trước khớp đốt 1-2 ngón II bàn tay bên trái. Hiện tại ổn định.
- Gãy xương đốt 2 ngón II và trật khớp liên đốt 1-2 ngón II bàn tay bên trái đã phẫu thuật kết hợp xương đốt 2 ngón II bàn tay bên trái. Hiện tại cứng các khớp liên đốt ngón II bàn tay bên trái.
2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Thị T tại thời điểm giám định là 13% (mười ba phần trăm)”.
Tại Bản kết luận giám định số 383/KLTTCT-TTPY ngày 29/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị H tại thời điểm giám định là 0% (không phần trăm)”
Bản cáo trạng số 85/CT-VKSNĐ, ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Thị H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Thị H mức án từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại: Bị cáo bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) cán cào lúa làm bằng thân tre màu vàng, dài 140 cm, đường kính 4 cm; 01 (một) cán chổi đót màu vàng, dài 70 cm, đường kính 3 cm. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình giống như bản Cáo trạng truy tố và đồng ý bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 35.000.000 đồng, đã bồi thường 20.000.000 đồng, còn phải bồi thường tiếp số tiền 15.000.000 đồng. Bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền thiệt hại về sức khỏe là 35.000.000 đồng và đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm hình phạt ở mức nhẹ nhất, cho bị cáo được ở nhà với gia đình và con cái.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận hành vi của mình giống như bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Do mâu thuẫn trong việc phơi lúa trên đường giao thông của xóm nên vào khoảng 08 giờ, ngày 11/6/2024, tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị H đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là 01 (một) cán cào lúa làm bằng thân tre màu vàng, dài 140 cm, đường kính 4 cm đánh chị Phạm Thị T làm chị Phạm Thị T bị gãy xương đốt 2 ngón II bàn tay trái và trật khớp liên đốt 1-2 ngón II bàn tay trái với tỷ lệ thương tích 13% (mười ba phần trăm). Hành vi của Nguyễn Thị H đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 85/CT-VKSNĐ, ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về hình phạt chính:
Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự, trị an tại địa phương.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyền bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại; bị hại có hành vi đánh lại bị cáo; bị hại có đơn đề nghị không khởi tố vụ án và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất; bị cáo có ông ngoại Đặng Đình N1, bà ngoại Đặng Thị C, cậu ruột Đặng Quang C1, bác ruột Nguyễn Thanh S1, bố chồng Võ Xuân A, mẹ chồng Trịnh Thị H1 là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng H2, Huy chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể; có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo mức án thấp nhất dưới khung hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 35.000.000 đồng, được trừ số tiền đã bồi thường 20.000.000 đồng, bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 15.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Xét đây là sự tự nguyện của bị cáo và bị hại, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các bên.
[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) cán cào lúa làm bằng thân tre màu vàng, dài 140 cm, đường kính 4 cm; 01 (một) cán chổi đót màu vàng, dài 70 cm, đường kính 3 cm là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền còn phải bồi thường là 15.000.000 đồng x 5% = 750.000 đồng.
[7]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587, 590 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho chị Phạm Thị T tổng số tiền là 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng), được trừ số tiền đã bồi thường là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), số tiền Nguyễn Thị H còn phải bồi thường tiếp cho chị Phạm Thị T là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được Thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) cán cào lúa làm bằng thân tre màu vàng, dài 140 cm, đường kính 4 cm; 01 (một) cán chổi đót màu vàng, dài 70 cm, đường kính 3 cm. Vật chứng này hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn và có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lài |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H "Cố ý gây thương tích"
