Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 81/2024/HS - ST

Ngày: 31/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Khuất Thị Minh Hiền

+ Ông Phạm Ngọc Diện

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị M, tên gọi khác: không, sinh năm 1976, tại Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc T và bà Hoàng Thị L; chồng: Nguyễn Lê G, sinh năm 1974 (đã ly hôn); con nuôi có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Tạ Quang T1, tên gọi khác: không, sinh năm 1999, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn Đ và bà Kiều Thị T2; tiền án: Bản án số 20/2022/HS-ST ngày 29/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thủ tục không lập biên bản số 42/QĐ-XPHC ngày 25/5/2022 của Công an huyện L xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2

3. Họ và tên: Vương Văn D, tên gọi khác: không, sinh năm 1993, tại Lạng Sơn; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn N và bà Trịnh Thị H; tiền án, tiền sự; không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Vương Văn N, sinh năm 1974; Địa chỉ: thôn I, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy “đá” nên Tạ Quang T1 gọi điện thoại cho một người tên “T3” (T1 không biết nhân thân, lai lịch) là người quen biết từ trước tại huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để hỏi mua ma túy “đá” với số tiền 2.000.000₫ (hai triệu đồng) thì người này đồng ý và hẹn địa điểm giao ma túy ở huyện Đ. Sau đó, T1 một mình điều khiển xe mô tô đến huyện Đ gặp “T3” đưa tiền và lấy ma túy là 01 (một) túi nylon bên trong chứa ma túy “đá” như đã thỏa thuận rồi T1 cất giấu ma túy vừa mua được và điều khiển xe về nhà của Nguyễn Thị M, tại thôn T, xã T, huyện L, Lâm Đồng (T1 chung sống với M như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn với Nguyễn Thị M). Khi về đến nhà, T1 lấy túi ma túy vừa mua được ra đổ một ít ma túy vào dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng cho bản thân, số ma túy còn lại T1 cất giấu trong người. Đến tối ngày 02/01/2024, khi T1 ở một mình trong phòng ngủ thứ nhất hướng từ cửa chính đi vào nhà thì T1 lấy túi ma túy cất giấu từ trước ra phân chia cho vào 02 (hai) đoạn ống hút màu xanh sọc trắng rồi hàn kín hai đầu lại nhằm mục đích bán lại cho người nghiện khác để kiếm lời. Sau khi phân chia ma túy xong, T1 để hai đoạn ống hút chứa ma túy trên mặt chiếu trong phòng rồi đi qua phòng giữa bên cạnh ngủ cùng với M (BL 123).

Vào lúc 09 giờ 49 phút ngày 03/01/2024, khi Nguyễn Thị M đang đi ăn sáng thì Vương Văn D gọi điện thoại cho M hỏi mua ma túy thì được M hẹn khi về nhà sẽ gọi lại cho D. Sau khi ăn sáng xong, M đi về nhà thuộc thôn T, xã T rồi đi vào phòng ngủ thứ nhất trong nhà thì thấy dưới chiếu có 02 (hai) đoạn ống hút màu xanh, sọc trắng mà T1 đã để trước đó. M cầm lên xem thì biết bên trong có ma túy vì trước đó đã thấy T1 mua ma túy về sử dụng. Lúc này, D gọi điện lại cho M thì M hẹn giao dịch mua ma túy tại trước cổng nhà của mình. M cầm 01 (một) đoạn ống hút màu xanh, sọc trắng bên trong có ma túy đi ra cổng đứng chờ D đến lấy. Một lúc sau, D đi xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 49D1-491.00 đến dừng xe ngoài cổng nhà M, thấy M thì D đưa số tiền 400.000đ cho M, M cầm tiền rồi để đoạn ống hút màu xanh, sọc trắng bên trong có chứa chất ma túy lên trên thanh sắt của cửa cổng rồi đi vào nhà, còn D cầm đoạn ống hút có ma túy ở tay trái của mình rồi điều khiển xe đi về nhà tại thôn T, xã T. Khi D điều khiển xe đi đến đoạn đường thuộc thôn T, xã T thì gặp lực

3

lượng Công an đi tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc này, do sợ bị phát hiện cất giấu ma túy nên D đã vứt đoạn ống hút nhựa có chứa chất ma túy vừa mua được xuống mặt đường gần ngay vị trí chân của mình thì bị phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật. Qua làm việc Vương Văn D thừa nhận hành vi mua ma túy cất giấu trên người nhằm mục đích sử dụng cho bản thân (BL 22,23,124).

Đến khoảng 13 giờ 30 phút, qua khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị M tại thôn T, xã T, huyện L, lúc này có M, Tạ Quang T1 và Tạ Văn S, sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã T, huyện L, Lâm Đồng (là anh trai của T1) đang ở trong nhà thì phát hiện có 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh, sọc trắng được hàn kín hai đầu ở cạnh bờ tường phía bên phải nhà ở hướng từ cổng vào nhà, bên trong nghi có chứa chất ma túy; 01 (một) túi ni lon màu trắng bên trong chứa lá cây thực vật khô nghi là cần sa và 01 túi ni lon màu xanh bên trong chứa lá, thân cây thực vật khô nghi là cần sa để ở trong kệ bếp ga trong phòng bếp (BL 65,66). M khai nhận sáng ngày 03/01/2024, M thấy ở chiếu trong phòng ngủ thứ nhất có 02 đoạn ống hút nhựa bên trong có chứa ma túy của Tạ Quang T1 mua về nên khi D hỏi mua ma túy thì M đồng ý bán, sau đó M lấy một đoạn ống hút màu xanh sọc trắng hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy bán cho D 01 đoạn với giá 400.000đ, còn một đoạn thì khi bị khám xét M chạy vào phòng lấy vứt ra ngoài cửa sổ và bị phát hiện. Còn đối với 02 (hai) túi nylon bên trong chứa lá, thân cây thực vật khô là cần sa của Tạ Quang T1 đem về cất giấu tại ví trí trên, M không biết để làm gì. Đối với Tạ Quang T1 khai nhận việc Nguyễn Thị M bán ma túy cho Vương Văn D thì T1 không biết, còn đối với 02 (hai) túi nylon bên trong chứa lá, thân cây thực vật khô là cần sa do một người quen đã cho T1 trước đó để T1 dùng nuôi gà (BL 135,136).

Tang vật vụ án thu giữ: 01 (một) đoạn ống hút màu xanh sọc trắng dài 02cm được hàn kín hai đầu bên trong có chất nghi là ma túy; 01 (một) đoạn ống hút màu xanh sọc trắng dài 02cm được hàn kín hai đầu bên trong có chất nghỉ là ma túy, 01 (một) túi nylon màu trắng bên trong chứa lá cây thực vật khô nghi là cần sa; 01 (một túi nylon màu xanh bên trong chứa thân, lá cây thực vật khô nghi là cần sa, số tiền 13.600.000₫ (Mười ba triệu sáu trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu POCO C65; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu xanh dương bên trong gắn sim số 0971403170; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBlade mang biển kiểm soát 49D1-491.00.

Ngày 09/01/2024, Phòng K Công an tỉnh L kết luận số 23/KL-KTHS: Mẫu tỉnh thể chứa trong phong bì 1 là ma túy, có khối lượng 0,2319g. loại Methamphetamine; Mẫu tinh thể trong phong bì 2 là ma túy, có khối lượng 0,2959g, loại Methamphetamine; hộp giấy chứa mẫu cành, lá thực vật khô đựng trong 02 (hai) túi nylon là ma túy, có khối lượng 13,1490g (Mười ba phẩy một bốn chín không gam) và 26,0g (Hai mươi sáu phẩy không gam), đều là Cần sa.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

4

Cần sa là chất ma túy nằm trong danh mục ID, STT: 1, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử các bị can Nguyễn Thị M, Tạ Quang T1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và Vương Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị M, Tạ Quang T1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Vương Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tạ Quang T1 từ 30 đến 36 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M từ 24 đến 30 tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vương Văn D từ 12 đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật; Về án phí buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo xác định quá trình điều tra các bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Các bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, bị cáo Tạ Quang T1 khai nhận vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 03/01/2024, tại nhà ở của Nguyễn Thị M tại thôn T, xã T, huyện L, Lâm Đồng, bị cáo Tạ Quang T1 có hành vi mua và cất giấu trái phép chất ma túy với tổng

5

khối lượng 0,5278g (Không phẩy năm hai bảy tám gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời và bị cáo Nguyễn Thị M có hành vì bán trái phép chất ma túy có khối lượng 0,2319g (không phẩy hai ba một chín gam), loại Methamphetamine với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) cho bị cáo Vương Văn D. Còn bị cáo Vương Văn D có hành vi mua và cất giấu trái phép chất ma túy khối lượng 0,2319g (Không phẩy hai ba một chín gam), loại Methamphetamine trên người nhăm mục đích sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Tạ Quang T1, Nguyễn Thị M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và Vương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, do đó các bị cáo biết rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là những hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Bởi vì, ma túy là loại độc dược, gây ra nhiều tác hại đối với người sử dụng và còn là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, về hình phạt đối với loại tội phạm này cũng rất nghiêm khắc. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, các bị cáo đã không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này đối với chính bản thân mình mà mua bán, tàng trữ ma túy thì đã bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: xét thấy ngày 29/3/2022 bị cáo T1 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội Cố ý gây thương tích. Trong quá trình chấp hành án treo thì bị cáo bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính theo thủ tục không lập biên bản số 42/QĐ-XPHC ngày 25/5/2022 xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi chấp hành án xong nhưng chưa được xóa án tích thì bị cáo T1 lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm do đó áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T1. Đối với bị cáo M và bị cáo D chưa có tiền án, tiền sự; sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã

6

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cả ba bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn huyện L, tỉnh Lâm Đồng đang có chiều hướng gia tăng, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật. Trong đó bị cáo T1 phải chịu hình phạt cao nhất trong vụ án, còn bị cáo M chịu hình phạt cao hơn bị D nhưng thấp hơn bị cáo T1. Do đó cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tại phiên tòa.

[6]. Đối với người đàn ông tên T3, là người bán ma túy cho bị cáo Tạ Quang T1, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.

[7]. Đối với hành vi cất giấu số cần sa khô có tổng khối lượng 39,1490g (Ba mươi chín phẩy một bốn chín không gam) của bị cáo Tạ Quang T1 không đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên hành vi này đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính ra, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, các bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[9]. Xử lý vật chứng: qua xem xét các vật chứng thu giữ đã được cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chuyển giao sang chi cục thi hành án dân sự huyện L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 49D1- 491.00 màu đen mà Vương Văn D dùng làm phương tiện đi mua ma túy. Quá trình điều tra, xác minh xác định được chủ sở hữu hợp pháp là của ông Vương Văn N. Do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Vương Văn N. Tại phiên toà con trai của ông N có mặt và xác định gia đình đã nhận lại xe không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với 02 (hai) phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên "Võ Như T4", "Hoàng Thị Thanh H1", "Đặng Quốc T5" và dầu tròn màu đỏ của "Phòng

7

K - Công an tỉnh L". Đây là phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định và mẫu hoàn lại sau giám định là ma túy nhà nước cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi note 12 màu xanh dương được niêm phong trong phong bì bên ngoài có chữ ký của "Hoàng Văn T6", "Dương Văn T7", dấu điểm chỉ của Nguyễn Thị M và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Điện thoại này bị cáo sử dụng vào việc liên lạc để mua bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu POCO C65 được niêm phong trong phong bi bên ngoài có chữ ký của "Vương Văn D", "Nguyên Đình D1", dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Điện thoại này bị cáo sử dụng vào việc liên lạc để mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Số tiền 400.000 đồng đã được nộp vào tài khoản của chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng nên tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước. Riêng số tiền 13.200.000đồng bị cáo M đã nhận lại nên không xem xét.

[10]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Tạ Quang T1, Nguyễn Thị M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Vương Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Tạ Quang T1 36 (ba mươi sáu ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị M 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024.

1.3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Vương Văn D 12 (mươi hai ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

8

Tuyên tịch thu tiêu hủy : 02 (hai) phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên "Võ Như T4", "Hoàng Thị Thanh H1", "Đặng Quốc T5" và dấu tròn màu đỏ của "Phòng K - Công an tỉnh L".

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi note 12 màu xanh dương được niêm phong trong phong bì bên ngoài có chữ ký của "Hoàng Văn T6", "Dương Văn T7", dấu điểm chỉ của Nguyễn Thị M và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng và 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu POCO C65 được niêm phong trong phong bi bên ngoài có chữ ký của "Vương Văn D", "Nguyên Đình D2", dầu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 23/4/2024 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 400.000đồng theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng ngày 17/4/2024.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Tạ Quang T1, Nguyễn Thị MVương Văn D mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/5/2024), để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M cùng đồng phạm Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger