Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày 30-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ngọc Hà và ông Phạm Xuân Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Như M (tên khác: T), sinh ngày 08-5-1995 tại Lâm Đồng; Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: Số C, Xóm B, Thôn G, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S và bà Đặng Thị Thùy V; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 53/2020/HSST ngày 28-6-2022 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 01-9-2023; Nhân thân: Năm 2017 bị Công an huyện D xử phạt hành chính về hành vi “Gian dối chiếm đoạt tài sản”; Năm 2018 bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, đã chấp hành xong; Bản án số 53/2018/HSST ngày 28-11-2018 bị TAND huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đã được xoá án tích; Bản án số 13/2020/HSST ngày 09-4-2020 bị TAND huyện Đắk Glong, tỉnh Đăk Nông xử phạt 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, đã được xoá án tích; Quyết định số 90/QĐ-XPHC ngày 23-8-2024 bị Công an huyện D xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, hình phạt tiền 1.500.000 đồng, chấp hành xong ngày 13-9-2024. Bị bắt tạm giữ từ ngày 25-5-2024, tạm giam từ ngày 31-5-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  2. Trần Đình Chí T1, sinh ngày 12-10-1990 tại Long An; Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T2 và bà Nguyễn Thị Thu H; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 81/2023/HSST ngày 24-12-2013 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 08 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 30-4-2019, đã được xoá án tích; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 92/QĐ-XPHC ngày 23-8-2024 của Công an huyện D. Bị bắt tạm giam từ ngày 31-5-2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện D. Có mặt.
  3. Trần Quốc T3 (tên khác: B), sinh ngày 12-10-1990 tại Lâm Đồng; Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1 và bà Nguyễn Thị Đ. Vợ Phạm Thị Cẩm L (đã mất năm 2017) và có hai con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Bản án số 58/2010/HSST ngày 24-9-2010 của TAND huyện Di Linh, xử phạt 42 tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”, đã được xoá án tích; Bản án số 53/2014/HSST ngày 29-8-2014 của TAND huyện Di Linh, xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đã được xoá án tích' năm 2019 bị Công an huyện D xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau”, đã chấp hành xong; Quyết định số 91/QĐ-XPHC ngày 23-8-2024 của Công an huyện D xử phạt tiền 4.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 30-9-2024. Bị bắt tạm giam từ ngày 25-5-2024 đến ngày 22-6-2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Trần D, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Ông Ân Huyền T4, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số B, Thôn I, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  3. Ông Huỳnh Công T5, sinh năm 1984. Địa chỉ: thôn N, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  4. Ông Lê Hồng H2, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số nhà D, đường H, Tổ E, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  5. Ông Nguyễn Trung C, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số nhà D, đường L, Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  6. Ông Trương Văn D1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn E, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  7. Ông Lê Văn T6, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  8. Ông Nguyễn P, sinh năm 1973. Địa chỉ: Xóm I, Thôn F, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  9. Ông Nguyễn P1, sinh năm 1975. Địa chỉ: thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trương Hoài P2, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số A, Thôn A, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Công T7, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số F, thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 là các đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định, đã thuê chung 01 căn phòng trọ tại Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bàn bạc cùng nhau trộm cắp tài sản. Do chỉ có một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 49S9 – 0273 làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên khi thực hiện có người đi, người ở nhà nhưng số tiền có được từ việc trộm cắp sẽ sử dụng để tiêu xài chung. Trong khoảng thời gian tháng 4 và tháng 5 năm 2024 các đối tượng đã thực hiện 05 lần trộm cắp tài sản trên các khu vực huyện D, tỉnh Lâm Đồng và địa bàn xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Cụ thể:

Lần 1: Ngày 22-4-2024, Trần Quốc T3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49S9 – 0273 chở Hoàng Như MTrần Đình Chí T1 đi vào khu vực thuộc Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để trộm cắp tài sản. Tại khu vực trên, M phát hiện chiếc xe mô tô biển kiểm soát 77S6 – 8301 của ông Trần D đang dựng bên đường bê tông, M nói với T3 dừng xe để MT1 xuống xe và đi bộ đến vị trí chiếc xe mô tô biển kiểm soát 77S6 – 8301, M rút dây điện nguồn, T1 khởi động nổ máy điều khiển xe chở M về phòng trọ ở Tổ A, thị trấn D. Đến 03 ngày sau M nhặt được tấm biển kiểm soát số 49F1 – 29784, M thay vào biểm kiểm soát của xe mô tô trên, còn biển kiểm soát 77S6 – 8301 M vứt bỏ.

Xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 77S6 – 8301 là xe của ông Trần Văn M1 là bố của ông Trần D, ông M1 cho, tặng ông Trần D từ năm 2005.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 535/KL-HĐĐGTS ngày 22-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wonder, màu nâu, số khung 0011H – 000022, số máy FM HP 070461, trị giá 1.500.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 02 giờ sáng ngày 10-5-2024, Hoàng Như M rủ Trần Quốc T3 đi trộm cắp tài sản, T3 điều khiển chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát số 49F1 – 29784 chở M đi đến khu vực Thôn F, xã T, huyện D phát hiện trong chòi có một máy phát điện của ông Ân Huyền T4. M dùng mỏ-lết bẻ tay ổ khoá, T3 vào trong tháo máy phát điện, khi tháo xong, MT3 cùng bê lên xe máy, M điều khiển xe chở máy phát điện và T3 chạy ra Quốc lộ B, tại khu vực núi C thuộc Thôn F, xã T. Lúc này khoảng 05 giờ 30 phút sáng cùng ngày, T3 lấy điện thoại liên lạc với Trương Hoài P2 làm nghề buôn bán đồ cũ, chào bán máy phát điện trên thì P2 đồng ý mua và nói với T3 chở vào nhà cho P2, cả hai thống nhất mua bán với giá 2.000.000 đồng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 486/KL-HĐĐGTS ngày 02-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận: 01 chiếc máy phát điện, hiệu Hữu Toàn, đã qua sử dụng, trị giá 13.333.333 đồng.

Lần 3: Vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 19-5-2024 Hoàng Như M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 49F1 – 29784 chở Trần Đình Chí T1 đi từ phòng trọ dọc theo Quốc lộ B đến địa phận xã Đ, còn T3 thì ở nhà trọ. Khi đi đến khu công trường xây dựng thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện D phát hiện thấy 01 máy trộn bê tông của ông Huỳnh Công T5, không có người trông coi, lúc này MT1 dựng xe cách đó 20 mét. Tính đứng ở xe cảnh giới, còn M lấy từ trong cốp xe một cái khoá cờ lê 13 và 01 cái kìm (đã chuẩn bị từ trước) M đi bộ đến vị trí và tháo 01 chiếc mô tơ, nhãn hiệu AFC 1.1 KW ra khỏi máy trộn, đem mô tơ ra xe và cùng T1 chở về phòng trọ. Đến sáng khi dậy thì T3M cùng nhau mang chiếc mô tơ trên bán cho ông Trương Hoài P2 với giá 1.000.000 đồng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 319/KL-HĐĐGTS ngày 31-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận: 01 chiếc máy mô tơ nhãn hiệu Hữu AFC 1.1 KW màu xanh lá, đã qua sử dụng, trị giá 1.200.000 đồng.

Lần 4: Vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 20-5-2024 Trần Đình Chí T1 điều khiển xe mô tô 49F1 – 29784 chở Trần Quốc T3 đi từ phòng trọ dọc theo Quốc lộ B về hướng thành phố B để trộm cắp tài sản, còn M thì ở nhà trọ. Khi đi đến Cửa hàng Đ1 của ông Lê Hồng H2, T3 phát hiện một máy trộn bê tông để trước cửa hàng, không có người trông coi, lúc này T1 dựng xe lại và đứng cảnh giới, còn T3 đi bộ vào và dùng khoá cờ lê 14 (đã chuẩn bị từ trước) để tháo một chiếc mô tơ, nhãn hiệu “Toàn Phát Motor” màu xám, có cánh quạt kim loại màu xanh da trời, gắn trên máy trộn bê tông ra, đem chiếc mô tơ ra xe rồi chở nhau về phòng trọ. Khi về đến phòng trọ để cất giấu mô tơ thì M vẫn còn thức và nhìn thấy mô tơ. Sau khi cất giấu, T1 tiếp tục điều khiển xe chở T3 đi tìm kiếm thêm tài sản.

Khi T1T3 đến khu vực Tổ A, thị trấn D thì phát hiện công trình xây dựng do ông Nguyễn Trung C quản lý có một máy trộn bê tông không có người trông coi. Tính điều khiển xe chạy qua một đoạn rồi dừng xe lại và đứng ở xe cảnh giới, còn T3 đi bộ đến dùng khoá cờ lê 14 tháo chiếc mô tơ (chưa rõ đặc điểm) gắn với máy trộn bê tông ra và mang ra xe, cùng T1 chở T3 về nhà trọ nghỉ ngơi. Đến sáng cùng ngày T3 điều khiển xe chở hai chiếc mô tơ đến bán cho tiệm phế liệu ông Nguyễn Công T7. Quá trình mua bán mô tơ hiệu “Toàn Phát”, còn mới, ông T7 mua với giá 800.000 đồng, còn chiếc mô tơ cũ ông T7 mua với giá 600.000 đồng, tổng cộng hai chiếc máy mô tơ là 1.400.000 đồng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 319/KL-HĐĐGTS ngày 31-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận: 01 chiếc máy mô tô nhãn hiệu Toàn Phát motor, màu xám, có cánh quạt kim loại màu xanh da trời, trị giá 2.200.000 đồng; 01 chiếc mô tô điện, loại mô tơ sử dụng cho máy trộn bê tông, đã hư hỏng, không sử dụng được, trọng lượng 30kg, trị giá 370.000 đồng. Tổng giá trị 02 chiếc mô tơ là 2.570.000 đồng.

Lần 5: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 22-5-2024 Hoàng Như M, điều khiển xe mô tô biển số 49F1 – 29784 chở Trần Quốc T3 đi từ phòng trọ dọc theo Quốc lộ B về hướng thành phố B để trộm cắp. Theo đó từ xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng đến chợ xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng đã trộm cắp các tài sản gồm: 01 chiếc mô tơ điện, hiệu MAX EI của ông Trương Văn D1; 01 chiếc mô tơ điện, hiệu KNC của ông Lê Văn T6; 01 chiếc mô tơ điện hiệu Vinh H3 motor của ông Nguyễn P; 01 chiếc mô tơ điện hiệu Haning của ông Nguyễn P1, sau đó lần lượt mang đi cất giấu trên đồi dốc thuộc Thôn B, xã Đ. Tại nơi cất giấu tài sản trộm cắp, vì do không chở về được, nên T3 điện thoại cho T1 để T1 chạy xe xuống cùng chở các mô tơ về phòng trọ. Sau đó T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49S9 – 0273, nhãn hiệu Fashion, màu đen. Đến ngày 24-5-2024 T3 bán 04 mô tơ trên cho P đồng ý mua với giá thoả thuận 1.000.000 đồng/ chiếc mô tơ, tổng cộng là 4.000.000 đồng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 524/KL-HĐĐGTS ngày 20-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận: 01 chiếc máy mô tô nhãn hiệu MAX EI, đã qua sử dụng, trị giá 566.000 đồng; 01 chiếc máy mô tơ điện, hiệu V1, đã qua sử dụng trị giá là 550.000 đồng; 01 chiếc máy mô tơ điện, hiệu KNC đã qua sử dụng trị giá 566.000 đồng; 01 chiếc mô tơ điện, hiệu Haninh đã qua sử dụng trị giá 600.000 đồng. Tổng giá trị 04 chiếc mô tơ là 2.282.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 xe mô tô biển kiểm soát 77S6 – 8301, nhãn hiệu Wonder, màu nâu, số khung 0011H – 000022, số máy FM HP 070461, thuộc chủ sở hữu của ông Trần D (Biên bản tạm giữ xe mô tô Dream biển kiểm soát 49F1 – 29784) và 01 xe mô tô biển kiểm soát 49S9 - 0273, nhãn hiệu Fashion, màu đen, xe của T1;
  • 01 mỏ lết bằng kim loại, dài 25cm;
  • 02 cái cờ lê bằng kim loại, dài 17,5cm (khoá 14);
  • 01 cái kéo bằng kim loại, dài 23,5cm, màu đỏ, hiện đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh quản lý;
  • 01 máy phát điện, hiệu Hữu Toàn, đã qua sử dụng;
  • 01 mô tơ, nhãn hiệu Hữu AFC 1.1 KW, màu xanh, đã qua sử dụng;
  • 01 mô tơ, nhãn hiệu “Toàn Phát Motor”, màu xám, có cánh quạt bằng kim loại màu xanh da trời, đã qua sử dụng;
  • 01 mô tơ điện, hiệu MAX EI, đã qua sử dụng;
  • 01 mô tơ điện, hiệu V1, đã qua sử dụng;
  • 01 mô tơ, nhãn hiệu Hữu ANC, đã qua sử dụng;
  • 01 mô tơ điện, hiệu Haning, đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động Iphone màu đỏ của ông P;
  • 01 điện thoại di động Reclne, màu xanh đen của Trần Đình Chí T1.

Công an huyện D đã giao trả lại cho chủ sở hữu 01 máy phát điện và 06 mô tơ điện.

Trách nhiệm dân sự: Ông Trần D, ông Ân Huyền T4, ông Huỳnh Công T5, ông Lê Hồng H2, ông Nguyễn Trung C, ông Trương Văn D1, ông Lê Văn T8, ông Nguyễn P và ông Nguyễn P1 là bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Ông Nguyễn Công T7, ông Trương Hoài P2 là người mua tài sản do Hoàng Như M và đồng bọn trộm cắp được mà có, không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố bị cáo Hoàng Như M theo điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố các bị cáo Trần Đình Chí T1, Trần Quốc T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh thay đổi một phần quyết định truy tố, luận tội và tranh luận:

  • - Rút một phần quyết định truy tố, theo cáo trạng đã công bố truy tố Hoàng Như M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, nay thay đổi truy tố các bị cáo Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng Hoàng Như M áp dụng thêm điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt Hoàng Như M từ 30 đến 36 tháng tù; Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 từ 18 đến 24 tháng tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết về trả lại tiền nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Vật chứng thu giữ: Tịch thu và tiêu huỷ
  • - Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 đều đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, vì muốn có tiền để phục vụ nhu cầu của bản thân nên bị cáo Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 đã có hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở của các bị hại để trộm cắp tài sản trị giá 20.885.333 đồng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng, kết luận điều tra và cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 đều phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bản tính tham lam, muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân nhưng không chịu lao động chân chính nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, khi lượng hình cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định mới có đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng:

Các bị cáo Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1, Trần Quốc T3Lê Hoàng T9 đều có tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Hoàng Như M có nhân thân xấu, từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích, sau đó bị cáo tiếp tục phạm tội đã bị kết án (Bản án số 53/2020/HSST ngày 28-6-2022 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”), và tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trần Đình Chí T1 có nhân thân xấu, từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích (Bản án số 81/2023/HSST ngày 24-12-2013 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng), đã được xóa án tích.

Bị cáo Trần Quốc T3 có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính (đã chấp hành xong) và từng kết án nhưng đã được xóa án tích (Bản án số 58/2010/HSST ngày 24-9-2010 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và Bản án số 53/2014/HSST ngày 29-8-2014 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng).

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cũng đủ tác dụng đối với các bị cáo, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này, các bị cáo là đồng phạm, cùng là người thực hành, trực tiếp thực hiện tội phạm. Xét tính chất và mức độ tham gia phạm tội thì cần có mức hình phạt tương ứng với hành vi đã thực hiện.

- Đối với ông Trương Hoài P2 và ông Nguyễn Công T7 không biết việc tài sản các bị cáo bán do thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mà có nên không có cơ sở xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Trương Hoài P2 và ông Nguyễn Công T7 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, ông P2 và ông T7 không yêu cầu giải quyết đối với số tiền mua tài sản do các bị cáo bán nên không xem xét giải quyết.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều đã nhận lại tài sản trộm cắp, không yêu cầu giải quyết về bồi thường, riêng 01 mô tơ điện đã của ông Nguyễn Trung C đã bị tháo rời làm phế liệu, ông C không yêu cầu nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết, về hình phạt đều đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

[5] Về vật chứng: Ông Trần D yêu cầu trả lại xe mô tô biển kiểm soát số 77S6 – 8301, xét thấy vật chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án và thi hành án; ông Trương Hoài P2 yêu cầu trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đỏ, xét thấy không phải là vật chứng cần trả lại ngay cho chủ sở hữu.

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 mỏ lết bằng kim loại đã bị han rỉ, chiều dài 25cm, có chữ DROP FORGED; 02 cờ lê bằng kim loại khoá 14, chiều dài 17,5, có chữ Porged – steel – China; 01 kéo bằng kim loại đã bị han rỉ, phần thân kéo màu đỏ, chiều dài 23,5cm.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện phạm tội gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát 49S9 – 0273, số máy LC150FMG01027960, số khung FS10010000513 và 01 điện thoại di động hiệu Realme 3 pro, màu xanh tím.

Trả lại cho ông Trương Hoài P2 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đỏ.

Trả lại cho ông Trần D xe mô tô biển kiểm soát 49F1 – 29784 (biển kiểm soát 77S6 – 8301 đã bị vứt bỏ thay bằng biển kiểm soát nhặt được là 49F1 – 29784, số máy HM152FMHP070461, số khung VHLPCH0011H000022)

[6] Về án phí: Bị cáo Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 50; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng Hoàng Như M áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Như M 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-5-2024.

    Xử phạt bị cáo Trần Quốc T3 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-6-2024.

    Xử phạt bị cáo Trần Đình Chí T1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 02-6-2024 đến ngày 22-6-2024.

  2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu và tiêu huỷ: 01 mỏ lết bằng kim loại đã bị han rỉ, chiều dài 25cm, có chữ DROP FORGED; 02 cờ lê bằng kim loại khoá 14, chiều dài 17,5, có chữ Porged – steel – China; 01 kéo bằng kim loại đã bị han rỉ, phần thân kéo màu đỏ, chiều dài 23,5cm.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện phạm tội gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát 49S9 – 0273, số máy LC150FMG01027960, số khung FS10010000513 và 01 điện thoại di động hiệu Realme 3 pro, màu xanh tím.

    Trả lại cho ông Trương Hoài P2 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu đỏ.

    Trả lại cho ông Trần D xe mô tô biển kiểm soát 49F1 – 29784 (biển kiểm soát 77S6 – 8301 đã bị vứt bỏ thay bằng biển kiểm soát nhặt được là 49F1 – 29784, số máy HM152FMHP070461, số khung VHLPCH0011H000022) (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-9-2024).

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 mỗi bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1Trần Quốc T3 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Công an huyện Di Linh;
  • - Bị cáo, bị hại, người LQ (để thi hành);
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - THA hình sự;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - Lưu án văn, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mỹ Lệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Như M, Trần Đình Chí T1 và Trần Quốc T3 phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger