Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-PT

Ngày: 30-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu

Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn

Ông Phạm Thái Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mai – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Ngọc Bích – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 66/2024/HSPT-HS, ngày 10 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo K' Minh Phúc, do có kháng cáo của bị cáo K' Minh Phúc đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST, ngày 07 tháng 5 năm 2024, của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ tên: K' Minh P (Tên gọi khác: Không có), Sinh ngày 18/02/2004 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: nam; Dân tộc: K'Ho; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông K' Minh B, sinh năm 1973 và bà K' Thị Đòi, sinh năm 1975; Vợ, con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có 05 bị cáo khác và bị hại không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 12/7/2022, Phạm Quang H đến khu vực N thuộc thôn T, xã T, thành phố P chơi thì bị anh Mai Văn L là nhân viên bảo vệ ở đây đuổi nên giữa H và anh L cãi vã nhau. Khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, khi đang ở nhà tại thôn T, xã T, thành phố P, do còn bực tức về mâu thuẫn với anh L lúc chiều nên H rủ Châu Ngọc P1, Phạm Văn T, Đinh Hoài T1, K’Minh P và Đoàn Tuấn N đi tìm anh L để đánh trả thù thì cả nhóm đồng ý. H lấy ra 03 cây đao tự chế đưa cho P1 01 cây, T 01 cây, H giữ lại 01 cây. Sau đó H điều khiển xe mô tô biển số 86C1-639.03 chở P1 và T (mang theo hung khí), P điều khiển xe mô tô biển số 86B2-469.72 chở N và T1 (không cầm hung khí) đi đến Dự án N – nơi anh L đang làm bảo vệ để tìm anh L đánh trả thù như đã thống nhất. Khi đến nơi, H hỏi “Thằng lúc nãy nói tao quậy phá là thằng nào, ra đây nói chuyện”, thì anh L đứng dậy nói “Tao nè”. Lúc này, T1, P, N đứng tại chỗ để cảnh giới, H cầm đao tự chế chạy tới chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vai trái của anh L, anh L vừa quay người bỏ chạy thì bị H tiếp tục cầm đao chém thêm 01 nhát trúng vào mặt sau cánh tay phải. Anh L bỏ chạy về hướng bờ biển được một đoạn khoảng 08m thì bị T và P1 cầm đao tự chế đuổi theo. T cầm đao chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống trúng vào lưng phải của anh L. Anh L tiếp tục bỏ chạy thì bị P1 đuổi kịp và cầm đao chém nhiều nhát từ phía sau trúng vào mặt sau cẳng tay trái, mặt ngoài đùi trái và mặt sau cẳng chân trái của anh L. Ngay sau khi gây án, các đối tượng chở nhau mang theo 03 cây đao rời khỏi hiện trường và cất giấu hung khí này tại nhà của H ở thôn T, xã T, thành phố P. Bị hại Mai Văn L được đồng nghiệp đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B.

Ngày 13/7/2022, Cơ quan điều tra triệu tập Phạm Quang H, Châu Ngọc P1, Phạm Văn T, Đinh Hoài T1, K' Minh P và Đoàn Tuấn N đến trụ sở làm việc. Quá trình điều tra, H, P1, T, T1, P và N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 409/2022/TgT ngày 22/7/2022, Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Mai Văn L như sau:

  • Vết thương – chấn thương đỉnh vai trái, bong khớp cùng đòn trái đã được điều trị, hiện khớp cùng đòn trái đúng vị trí, vết thương dài 9cm còn khâu 10 mũi chỉ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3% + 3%.
  • Vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt sau cánh tay phải đã được điều trị, dài 6,5cm, hiện còn khâu 05 mũi chỉ, đóng vảy nâu. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.
  • Vết thương phần mềm vùng lưng phải đã được điều trị, dài 18,5cm, hiện còn 09 mũi chỉ, đóng vảy nâu. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.
  • Xước da 1/3 trên mặt sau cẳng tay trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo, còn đóng vảy nâu kích thước: 7 x 0,2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
  • Xước da 1/3 dưới mặt sau ngoài đùi trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành, còn đóng vảy nâu kích thước: 6,5 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
  • Xước da nông không liên tục 1/3 dưới mặt sau cẳng chân trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành mờ, còn đóng vảy nâu kích thước: 6 x 0,2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho ông Mai Văn L hiện tại là: 16% (Một sáu phần trăm)

Các vết thương, xước da do vật sắc gây ra.

Vết thương đỉnh vai trái có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới, với lực tác động trung bình; Vết thương vùng lưng phải có chiều hướng tác động từ sau ra trước, với lực tác động nhẹ; Vết thương cánh tay phải, xước da cẳng tay trái, đùi trái, cẳng chân trái có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương, với lực tác động nhẹ.

Hiện tại không xác định cố tật.

Vật chứng của vụ án:

- Thu giữ từ Phạm Quang H:

  • 01 (một) cây đao lớn dài khoảng 80cm, một đầu bằng gỗ (có gắn móc sắt tròn) dài khoảng 20cm, rộng 6cm; một đầu bằng sắt dài khoảng 60cm, rộng 5cm.
  • 01 (một) cây đao ngắn có chiều dài khoảng 60cm gồm phần đầu bằng gỗ dài 15cm, rộng 4cm, phần thân bằng sắt dài 45cm, rộng 5cm.
  • 01 (một) cây đao dài khoảng 60cm, gồm phần đầu bằng gỗ dài 15cm, rộng 4cm; phần thân bằng sắt màu đen dài khoảng 45cm, rộng 5cm.

H khai số hung khí trên H mua trên mạng và cất tại nhà, đây là số hung khí mà H, T và P1 dùng khi gây thương tích cho bị hại Mai Văn L vào ngày 12/7/2022.

- Thu giữ của K' Minh Phúc: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu trắng đen, biển số 86C1-639.03.

- Thu giữ của Đoàn Tuấn N: 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Sirius PC màu cam, biển số 86B2-469.72.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô biển số 86C1-639.03; 01 xe mô tô biển số 86B2-469.72: quá trình điều tra xét thấy đây là các tài sản cá nhân của K' Minh P và ông Đoàn Thanh T2 (cha ruột của Đoàn Tuấn N), không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho P và ông T2.

Đối với 03 cây đao (là hung khí các bị can sử dụng khi gây án): Viện kiểm sát nhân dân TP Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự TP Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.

Về dân sự: Phạm Quang H, Châu Ngọc P1, Đinh Hoài T1, K' Minh P và Đoàn Tuấn N đã bồi thường cho bị hại Mai Văn L tổng số tiền là 25.000.000 đồng. Anh L đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với H, P1, T, T1, P, N.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST, ngày 07/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã quyết định:

  1. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quang H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Quang H 02 (hai) 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

  2. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố: Bị cáo Châu Ngọc P1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo Châu Ngọc P1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  3. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2023.

  4. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố: Bị cáo K'Minh P2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo K'Minh P2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

  5. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố: Bị cáo Đinh Hoài T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo Đinh Hoài T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

  6. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Tuấn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo Đoàn Tuấn N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo K' Minh P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo K' Minh Phúc vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo K' Minh P về tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS và tuyên phạt bị cáo P 01 năm 06 tháng tù là phù hợp và tương xứng. Bị cáo K' Minh P kháng cáo có nộp đơn xác nhận là người dân tộc thiểu số và giấy khám sức khỏe thể hiện bị cáo bị hở hàm ếch bẩm sinh và giảm sức nhai. Tuy nhiên, xét thấy mức án nêu trên là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo K' Minh Phúc được thực hiện trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm;

  2. Xét kháng cáo của bị cáo K' Minh Phúc, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo K' Minh P thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo cùng với 05 bị cáo khác đã thực hiện như mô tả của Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST, ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố bị cáo P cùng 05 bị cáo khác phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

    Hội đồng xét xử thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào hình vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo P để áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS, tuyên phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù là tương xứng, phù hợp và đảm bảo tính công bằng với các bị cáo khác. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo K' Minh Phúc cung cấp được đơn xác nhận là người dân tộc thiểu số và giấy khám sức khỏe thể hiện bị cáo bị hở hàm ếch bẩm sinh và giảm sức nhai. Bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không biết chữ, nhận thức kém và là người dân tội thiểu số. Do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp. Đối với kháng cáo xin được hưởng án

  3. treo: Xét thấy để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và sự công bằng đối với các bị cáo khác nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

  4. Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo K' Minh P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết về phần hình phạt đối với bị cáo K' Minh P.

  1. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố: Bị cáo K'Minh P2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo K'Minh P2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

  2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo K' Minh P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 30/8/2024)./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND, CQĐT Công an, Tòa án,
  • CC THADS H.Hàm Thuận Bắc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - Tổ HCTP TAND tỉnh BT;
  • - Lưu: HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Phước Hiệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 81/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger