TAND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/HS-ST
Ngày 30-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn K, sinh năm 1958 (đã chết); Mẹ đẻ: Đào Thị T1, sinh năm 1957; Gia đình có 03 anh em, bản thân là thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1985; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2005;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Công an huyện L có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Hà Văn H, sinh năm 1948 (đã chết)
Đại diện gia đình bị hại:
- Anh Hà Văn H1, sinh năm 1977 (có mặt)
- Bà Phan Thị T2, sinh năm 1956 (vắng mặt)
- Chị Hà Thị H2, sinh năm 1981(có mặt)
- Anh Hà Văn H3, sinh năm 1987 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị T2, chị Hà Thị H2, anh Hà Văn H3: Anh Hà Văn H1, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1960 (có mặt)
- Ông Hà Văn H5, sinh năm 1960 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T với ông Hà Văn H, có quan hệ họ hàng và cùng ở thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Khoảng 20 giờ ngày 03/5/2024, T đi xe mô tô từ nhà đến quán tạp hoá nhà ông Nguyễn Văn H4 ở cùng thôn để mua thuốc lá. Khi đến nơi, T gặp ông H đang ngồi chơi tại nhà ông H4 nên T hỏi ông H “Nay ông H đi chơi xa nhỉ” nhưng ông H không trả lời. Sau đó, T bảo ông H4 bán cho bao thuốc lá rồi trả tiền và đang định đi về thì ông H bảo T “Con cháu nhìn thấy ông không có mồm”. Lúc này, giữa T và ông H lời qua tiếng lại, to tiếng với nhau. Trong lúc cãi nhau ông H chửi Tuyến và đứng dậy đi ra ngoài đường, T đi ra theo nói lại về việc không hỏi ông H rồi ông H với T đứng đối diện xô đẩy nhau ở ngoài đường trước cửa quán T4. Lúc này, ông H4 can ngăn nhưng hai bên không dừng lại mà ông H tiếp tục nhiều lần chỉ tay vào mặt, đồng thời dùng lời lẽ tục tĩu chửi T thì T đứng đối diện ông H dùng bàn tay phải tát mạnh một cái theo chiều hướng từ phải sang trái trúng vào má bên trái ông H làm ông H ngã ngửa đầu đập xuống mặt đường và bất tỉnh. Sau khi sự việc xảy ra, ông H4 gọi điện thông báo cho người thân của ông H đến đưa ông H đi Bệnh viện đa khoa tỉnh B để cấp cứu nhưng do vết thương nặng nên ông H chết ngày 04/5/2024.
Đến sáng ngày 04/5/2024, T biết tin ông H chết nên đến Công an xã A, huyện L xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Ngay sau khi nhận được tin báo về vụ cố ý gây thương tích nêu trên, ngày 04/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi ông Hà Văn H và tổ chức các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ án xảy ra tại đường T, xã A, huyện L mặt đường trải bê tông phẳng, thẳng và rộng 4,7m. Lấy cột điện ký hiệu 12-II/AH15 tại mép đường bên trái theo hướng từ xã T đi UBND xã A làm mốc phát hiện các dấu vết: Dấu vết màu nâu đỏ dạng quệt chùi (Ký hiệu số 01) kích thước (0,15 x 0,14) m, điểm gần nhất cách cột điện ký hiệu 12-II/AH15 là 8,4m, cách góc tường phía Đông Bắc nhà ông Nguyễn Văn H4 là 1,6m; cách mép cửa nhà ông Nguyễn Văn H4 là 1,85m. Dấu vết mài trượt mặt đường màu nâu (Ký hiệu số 02) kích thước (0,44 x 0,33)m điểm gần nhất cách dấu vết màu nâu đỏ (Ký hiệu số 01) là 1,1m; cách mép cửa nhà ông Nguyễn Văn H4 1,21 m. Kiểm tra nhà ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1976 ở đối diện nhà ông Nguyễn Văn H4 có lắp 01 mắt camera hướng Nam cách dấu vết màu nâu đỏ ký hiệu số 01 là 13,9m, cao cách đất 04m. Tiến hành kiểm tra gian bán hàng của nhà ông Nguyễn Văn H4, có một bộ bàn ghế gỗ, trên bộ bàn ghế có vết màu đỏ sẫm.
Quá trình khám nghiệm Cơ quan điều tra thu giữ: Vết màu mâu đỏ tại vị trí ký hiệu số 1 và 03 đoạn video từ camera nhà ông Nguyễn Văn C1 có ghi lại diễn biến vụ cố ý gây thương tích xảy ra ngày 03/5/2024.
Kết quả khám nghiệm tử thi ông Hà Văn H: Vùng má và góc hàm trái có diện sưng nề, tím da, kích thước (08 x 7,2)cm; mật độ tương đối đồng nhất, bề mặt không có sây sát; Vùng đỉnh, chẩm có diện sưng nề, kích thước (08 x 7,5)cm; trên diện này tại vị trí chính giữa vùng chẩm có tổn thương sây sát, bầm tím, trợt da, kích thước (04 x 3,5)cm; Kiểm tra các cơ quan khác không phát hiện dấu vết tổn thương.
Giải phẫu vùng đầu không tụ máu cơ thái dương hai bên; tụ máu dưới da đầu vùng đỉnh, chẩm, kích thước (09 x 7,6)cm; tụ máu dưới màng cứng, màng mềm lan tỏa hai bán cầu tập trung nhiều ở vùng trán, thái dương trái tạo thành lớp; Chảy máu các não thất, chảy máu dưới lều tiểu não và liềm đại não. Không chảy máu nhu mô não; Đường vỡ xương hộp sọ xuất phát từ chính giữa vùng chẩm, một đường nan theo đường khớp lên phía trên; một đường xuống dưới vào nền sọ bên trái; Nhu mô tiểu não bình thường.
Tại giấy ra viện số B006323 ngày 03/5/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định: Bệnh nhân Hà Văn H nhập viện lúc 21 giờ 22 phút ngày 03/5/2024 ra viện lúc 23 giờ 55 phút ngày 03/5/2024, chuẩn đoán chấn thương sọ não nặng- hôn mê sâu do tai nạn sinh hoạt- S067.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 989/KLGĐTT- KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
“1. Tổn thương chính trên cơ thể Hà Văn H là vùng đầu và mặt:
Diện sưng nề, tím da vùng má và góc hàm trái, kích thước (08 x 7,2) cm; mật độ tương đối đồng nhất, bề mặt không có sây sát.
Tổn thương sây sát, bầm tím, trợt da chính giữa vùng chẩm, khích thước (04 x 3,5)cm; trên diện sưng nề, kích thước (08 x 7,5)cm; qua đó làm bầm tụ máu tổ chức dưới đầu vùng đỉnh, chẩm; vỡ xương hộp sọ vùng chẩm và xương nề sọ bên trái tụ máu dưới màng cứng, màng mềm lan toả hai bán cầu tập trung nhiều ở vùng trán, thái dương trái tạo thành lớp, chảy máu các não thất, chảy máu dưới lều tiểu não và liềm đại não.
2. Kết luận: Nguyên nhân chết của Hà Văn H do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp vùng chẩm, xương nền sọ, chảy máu nội sọ”.
Tại công văn số 671 ngày 15/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B về việc trao đổi cơ chế hình thành dấu vết xác định như sau:
“Trường hợp ông Hà Văn H bị Nguyễn Văn T tát 01 cái vào má trái theo chiều hướng từ phải sang trái như trên có thể gây được thương tích diện sưng nề, tím da vùng má và góc hàm trái, kích thước (08 x 7,2) cm; mật độ tương đối đồng nhất, bề mặt không có sây sát.
Trường hợp ông H bị T tát ngã ngửa xuống đường vùng đầu phía sau đập xuống mặt đường như trên có thể gây ra thương tích vỡ xương hộp vùng chẩm, xương nền sọ, chảy máu nội sọ”.
Tại bản kết luận giám định số: HT 221.24/PY- XNSH ngày 14/5/2024 của V kết luận:
“1. Dấu vết trên tăm bông thu mẫu chất dịch màu nâu đỏ tại hiện trường gửi giám định có sinh phẩm của người; có ADN nhiễm sắc thể thường với nồng độ rất thấp không đủ điều kiện so sánh.
2. Phân tích được ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của tử thi Hà Văn H; ADN và kiểu gen được lưu tại khoa xét nhiệm sinh học, V, ký hiệu: HT221.24-2”.
Ngày 27/5/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Văn T xem lại 03 đoạn video trích xuất từ camera nhà ông Nguyễn Văn C1 có ghi lại diễn biến vụ cố ý gây thương tích xảy ra ngày 03/5/2024, kết quả: Tuyến xác định nội dung video đúng với hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản kết luận số 1381/KL- KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
“1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong (ba) file video gửi giám định.
2. Trong khoảng thời gian từ 20 giờ 17 phút 30 giây đến 20 giờ 18 phút 10 giây (thời gian thể hiện trên khung hình của file video có tên "video 1.mp4") quan sát thấy hình ảnh người mặc áo sáng màu, quần tối màu có hành động tay phải đưa lên chỉ về phía người người mặc áo tối màu, quần dài tối màu; người mặc áo tối màu, quần ngắn tối màu ôm và can ngăn hai người, sau đó người mặc áo sáng màu, quần tối màu di chuyển về phía người mặc áo tối màu, quần dài tối màu thì người mặc áo tối màu, quần dài tối màu có hành động di chuyển tay phải từ sau ra trước hướng về vùng đầu người mặc áo sáng màu, quần tối màu khiến người này ngã ngửa ra đất, không xác định được có tiếp xúc vào cơ thể người hay không”.
Ngày 01/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Văn T thực nghiệm điều tra hành vi T đánh ông H, kết quả: Bị cáo thực hiện thuần thục hành vi đánh ông H phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng.
Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nêu ở trên.
Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn T từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024.
Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết về xử lý tiền án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm
sát; bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng bị cáo rất ăn lăn hối lỗi, bị cáo xin lỗi đại diện gia đình bị hại mong được gia đình bị hại tha thứ lỗi lầm mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đều có mặt tại phiên tòa. Nên HĐXX quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về những chứng cứ xác định hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai người làm chứng phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định tử thi, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 03/5/2024, tại trước cửa quán tạp hóa của nhà ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1960 ở thôn P, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang, giữa Nguyễn Văn T và ông Hà Văn H có xảy ra mâu thuẫn to tiếng với nhau, du đẩy nhau. Sau đó, T dùng tay phải tát một cái trúng vào má trái ông H làm ông H ngã đập đầu xuống mặt đường bị thương tích chấn thương sọ não (Vỡ xương hộp vùng chẩm, xương nền sọ, chảy máu nội sọ) và bị chết.
Hành vi của Nguyễn Văn T dùng tay phải tát một cái trúng vào má trái ông H làm ông H ngã đập đầu xuống mặt đường bị thương tích chấn thương sọ não và bị chết đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, tính mạng của người khác.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do bực tức vì bị ông H chửi bới xúc phạm bị cáo và mẹ bị cáo nên bị cáo đã tát ông H một cái, ý thức chủ quan của bị cáo chỉ muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của ông H để thỏa cơn bực tức, không nhằm mục đích tước đoạt tính mạng của ông H. Nhưng việc ông H ngã đập đầu xuống mặt đường bị thương tích chấn thương sọ não (Vỡ xương hộp vùng chẩm, xương nền sọ, chảy máu nội
sọ) và dẫn đến bị chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Bị cáo không mong muốn hậu quả này xảy ra. Việc bị cáo tát ông H làm ông H ngã đập đầu xuống đường dẫn đến bị chết, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả làm chết người.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành của tội “cố ý gây thương tích” tội và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi cố ý gây thương tích đối với ông Hà Văn H là người trên 70 tuổi nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện gia đình bị hại. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ họ hàng với nhau. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo có một phần lỗi của bị hại đã chửi bới xúc phạm đến bị cáo và mẹ của bị cáo làm cho bị cáo bức xúc nhất thời hành động để thỏa cơn bực tức. Quá trình điều tra đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại tiếp tục đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội. Vì hai bên gia đình có quan hệ họ hàng, sự việc xảy ra nằm ngoài mong muốn của bị cáo. Nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. HĐXX xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của BLHS xử bị cáo mức thấp nhất dưới khung hình phạt liền kề là phù hợp với quy định của pháp luật. Bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
Do hiện nay bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo thi hành án.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động em ruột là Nguyễn Văn T3 bồi thường cho gia đình ông Hà Văn H để khắc phục hậu quả. Anh H1 là con đẻ của ông H đại diện gia đình bị hại nhận đủ số tiền 155.000.000 đồng và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.
Tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại giữ nguyên quan điểm trên, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, buộc tội, đề nghị xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo phân tích về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo, đề nghị xử lý án phí, quyền kháng cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn T 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T
