|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/DS-PT Ngày 30/7/2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền khác đối với tài sản |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và ông Đặng Chí Công.
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền khác đối với tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 107/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965, địa chỉ: Số A đường H, tổ F, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lương Ngọc P, là Luật sư của Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Ông B có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1970, địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (theo giấy ủy quyền số 01015 ngày 26/7/2024). Có mặt.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1965, địa chỉ: Số A đường H, tổ F, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
- - Người làm chứng:
- Bà Phan Thị L1, sinh năm 1939, địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967, địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Vào năm 2000, mẹ bà N là bà Phan Thị L1 có cho bà N một thửa đất nông nghiệp tại khóm A, thị trấn A, huyện A (nay là thôn A, xã P, huyện Đ), tỉnh Gia Lai. Đến ngày 22/01/2003, bà N được UBND huyện A (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số W 187505 gồm thửa đất số 339, diện tích 16.048 m² và thửa đất số 352, diện tích 5.009 m², thuộc tờ bản đồ số 9, số vào sổ cấp GCNQSDĐ số 00923 QSDĐ/HĐ số 21/2003. Sau đó một thời gian bà N phát hiện ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L (là em trai và em dâu bà N) có hành vi lấn chiếm đất của bà N tại thửa đất số 352. Diện tích đất mà ông B và bà L lấn chiếm khoảng 528 m² (chiều ngang 16m, chiều dài 33m). Bà N đã nhiều lần gặp vợ chồng ông B, bà L để yêu cầu không được lấn chiếm đất và trả lại diện tích đất đã lấn chiếm, trả lại hiện trạng như ban đầu nhưng vợ chồng ông B không trả mà còn cố tình gây gổ, chửi bới, đe dọa đòi chém bà N. Vụ việc tranh chấp vào thời điểm năm 2021 đã được UBND xã P hòa giải, đã xác định ranh giới của hai thửa đất. Bà N đã đóng hai trụ sắt ở đó nhưng khoảng tháng 5/2022 ông B nhổ trụ sắt rồi rào lưới B40, tiếp tục lấn qua đất của bà, vì vậy bà N khởi kiện tại Tòa án. Tại đơn khởi kiện, bà N yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L phải tự tháo dỡ hàng rào B40 và kẽm gai, di dời tài sản trên phần diện tích đất đã lấn chiếm, trả lại cho bà diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 528 m² (chiều ngang 16m, chiều dài 33m). Tuy nhiên, sau khi Hội đồng xem xét, thẩm định tại chỗ đo đạc lại thì diện tích đất tranh chấp thực tế mà ông B và bà L lấn chiếm là 1074,4 m² (theo như biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/01/2023). Phần diện tích đất mà vợ chồng ông B đang sử dụng nhiều hơn so với GCNQSDĐ được Nhà nước cấp, phần diện tích đất nằm ngoài GCNQSDĐ mà vợ chồng ông B đang sử dụng là đất đã lấn chiếm của bà N đã được cấp GCNQSDĐ. Vì vậy bà N yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L phải trả lại cho bà diện tích đất đã lấn chiếm là 1.074,4 m².
Tại phiên tòa sơ thẩm phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình, yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L phải tự tháo dỡ hàng rào B40 và kẽm gai, di dời tài sản trên phần diện tích đất đã lấn chiếm, trả lại cho bà Nguyễn Thị N diện tích đất 1.074,4 m² theo GCNQSDĐ số W 187505 do UBND huyện A (cũ), tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/01/2003.
1.2. Bị đơn ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L trình bày:
Vợ chồng ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N. Lý do nguồn gốc đất tranh chấp với bà N là do mẹ ông B là bà Phan Thị L1 cùng anh chị em khai hoang. Đến năm 2000, Nhà nước cấp sổ đỏ cho mẹ ông B, sau đó mẹ ông B đã phân chia đất cho các con, trong đó có ông B. Ông được phần diện tích khoảng 1.400m² và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Sau đó ông được Nhà nước cấp GCNQSDĐ số R302934 ngày 16/5/2000, diện tích 833 m², còn lại diện tích 567 m² phía sau vợ chồng ông vẫn đang sử dụng không tranh chấp với ai. Đối với diện tích đất 567 m², do kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn nên không có kinh phí để xin cấp GCNQSDĐ cho phần diện tích đất này, vợ chồng ông dự định khi nào làm ăn có tiền thì xin Nhà nước cấp bổ sung sau. Toàn bộ diện tích này vợ chồng ông sử dụng ổn định và làm hàng rào trụ lõi, lưới B40 xung quanh từ năm 2000 đến nay. Trước đây, địa chính xã đo phần diện tích đất tranh chấp là 528 m², sau này Tòa án xuống đo đạc diện tích đất lấn chiếm thuộc thửa đất số 352, tờ bản đồ số 9 tại thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai là 1.074,4 m² vượt lên quá nhiều so với địa chính xã đo nên vợ chồng ông không đồng ý. Từ những lý do trên vợ chồng ông yêu cầu Tòa án bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
Diện tích đất thực tế vợ chồng ông B đang sử dụng là 2.105,7 m², nhiều hơn so với GCNQSDĐ đã được cấp vì phần đất nằm ngoài GCNQSDĐ do mẹ ông cho từ năm 2000 và do vợ chồng ông khai phá thêm phần phía sau đất (trước đây là suối nhưng vợ chồng ông khai phá san lấp).
1.3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức T trình bày:
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 02/8/2023: “Tôi khẳng định quyền sử dụng đất theo GCNQSDĐ số W187505 do UBND huyện A (nay là thị xã A) cấp ngày 22/01/2003, theo trích lục bản đồ có các đặc điểm như sau: Thửa đất 339, diện tích 16.048m² và thửa đất 352 có diện tích 5.009m². Tài sản nêu trên là tài sản riêng của vợ tôi là bà Nguyễn Thị N. Tôi không có bất kỳ sự đóng góp nào trên quyền sử dụng đất tại hai thửa đất nêu trên. Kể từ ngày tôi lập và ký văn bản này bà Nguyễn Thị N được toàn quyền thực hiện các quyền sử dụng đất theo GCNQSDĐ số W 187505 do UBND huyện A (nay là thị xã A) cấp ngày 22/01/2003. Hiện nay vợ tôi là nguyên đơn trong vụ án dân sự thụ lý số 33/2022/TLST-DS ngày 31/10/2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền khác đối với tài sản” với bị đơn là ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L tại thửa đất nêu trên. Kính mong quý Tòa giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và không đưa tôi vào vụ án với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vì toàn bộ tài sản nêu trên của vợ tôi bà Nguyễn Thị N, tôi không có bất kỳ sự đóng góp nào. Tôi cam kết nội dung nêu trên hoàn toàn đúng sự thật, tôi không có tranh chấp, khiếu nại nào. Tôi tự nguyện xác nhận việc lập văn bản nêu trên không nhằm trốn tránh bất kỳ nghĩa vụ tài sản nào của tôi”.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/4/2024 ông T trình bày: “Về việc giải quyết vụ án: tôi vẫn giữ nguyên quan điểm của mình như trong văn bản trình bày ý kiến trước đây phần đất tranh chấp là tài sản riêng của vợ tôi là bà Nguyễn Thị N do mẹ vợ là bà Phan Thị L1 tặng cho riêng vợ. Do đó vợ tôi toàn quyền sử dụng, định đoạt chứ tôi không liên quan”.
1.4. Người làm chứng bà Phan Thị L1 trình bày:
Nguồn gốc đất bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn B đang sử dụng đều là của bà. Sau khi các con lập gia đình bà phân chia đất cho các con gồm Nguyễn Thị H (đã chết), Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn S. Phần đất của ai thì tự đi tách sổ. Bà N được cấp GCNQSDĐ năm 2003; ông B bà L được cấp GCNQSDĐ năm 2000. Theo bà L1 phần đất đang tranh chấp giữa bà N và ông B là phần đất của bà N đã được cấp GCNQSDĐ, đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật, ai được cấp bao nhiêu thì sử dụng bấy nhiêu. Khi bà cho đất bà N những người con còn lại không có ý kiến gì. Do trong quá trình sử dụng đất ông B và bà L cứ rào hàng rào lấn dần ra nên hiện nay diện tích đất ông B và bà L đang sử dụng có lấn qua diện tích đất của bà N. Việc ông B và bà L cho rằng diện tích tăng do khai phá thêm là không đúng vì xung quanh là đất của bà, không có đất trống.
1.5. Người làm chứng ông Nguyễn Văn S trình bày:
Ông S là con đẻ của bà Phan Thị L1, là em trai của bà N và ông B. Việc mẹ ông cho đất bà N, ông B thì ông và các anh chị em trong nhà đều biết và không có ý kiến gì vì đây là tài sản của mẹ ông. Sau khi mẹ ông cho đất thì ông B và bà N tự đi cắt sổ đỏ, ông không biết cụ thể diện tích đất bao nhiêu. Phần đất mà mẹ ông cho ông B có ranh giới từ cây mít đến chuồng bò cũ. Giữa phần đất của ông B và bà N không có đất trống nên việc ông B trình bày phần diện tích đất dư do khai hoang là không đúng.
1.6. Người làm chứng ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Ông T1 là con đẻ của bà Phan Thị L1 và ông Nguyễn Thành Đ. Nguồn gốc đất của bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn B đang sử dụng là do mẹ ông là bà Phan Thị L1 cho. Diện tích đất của ông B từ cây mít đến chuồng bò (cũ), ông B tự đi cắt sổ. Hiện nay diện tích đất ông B đang sử dụng có lấn qua phần diện tích của bà N. Giữa phần đất của ông B và bà N không có đất trống nên việc ông B trình bày phần diện tích dư do khai hoang là không đúng.
2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 165; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 164; khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 100; Điều 166; Điều 170; Điều 203 của Luật Đất đai; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
- - Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L phải trả lại cho hộ bà Nguyễn Thị N diện tích đất 1.074,4m² thuộc thửa đất số 352, tờ bản đồ số 09, địa chỉ tại thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W187505 do UBND huyện A cấp ngày 22/01/2003 cho hộ bà Nguyễn Thị N. Vị trí cụ thể như sau:
- Phía Đông giáp đất hoang, có kích thước 22,53m + 5,78m;
- Phía Tây giáp đường bê tông có kích thước 18,33m + 1,98m;
- Phía Nam giáp đất của bà N có kích thước 8,4m + 8,85m + 2,25m + 2,02m + 9,72m + 3,68m +6,2m;
- Phía Bắc giáp đất ông B có kích thước 26,54m + 18,35m.
- (có sơ đồ kèm theo).
- - Ông B và bà L có nghĩa vụ tháo dỡ tài sản trên đất là 01 chuồng bò cột gỗ, vách ván, nền bê tông, mái lợp tôn, diện tích 23,52m2; 01 chuồng gà dựng bằng tôn tạm bợ, hiện không còn sử dụng; hàng rào ruộng rẫy, trụ gỗ kẽm gai, lưới B40, cao 1m2, dài 73,2m để trả lại đất cho hộ bà Nguyễn Thị N.
- - Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L phải trả lại cho hộ bà Nguyễn Thị N diện tích đất 1.074,4m² thuộc thửa đất số 352, tờ bản đồ số 09, địa chỉ tại thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W187505 do UBND huyện A cấp ngày 22/01/2003 cho hộ bà Nguyễn Thị N. Vị trí cụ thể như sau:
- Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0004180 ngày 31/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đak Pơ.
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị N tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo, kháng nghị:
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, bị đơn ông Nguyễn Văn B có đơn kháng cáo về toàn bộ nội dung bản án và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết hủy bản án cấp sơ thẩm.
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức T2 không kháng cáo.
- Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ và giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết hủy bản án cấp sơ thẩm.
- Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông B khẳng định ông không đồng ý việc hòa giải vì có tiếp tục hòa giải cũng không có kết quả. Đối với phần diện tích đất tranh chấp nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông đã hết hạn sử dụng nếu phải trả diện tích đất trên thì ông đồng ý trả lại cho nhà nước, không đồng ý trả lại cho nguyên đơn bà N.
Người làm chứng bà Phan Thị L1 tại phiên tòa khẳng định nguồn gốc đất là của bà, bà đã tặng cho diện tích đất cho các con và các con cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng diện tích được cho phần bà tặng cho các con đều rõ ràng. Bà tặng cho các con 1 lần và không có thay đổi gì.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 528m²; sau khi thẩm định tại chỗ đo đạc thực tế thì diện tích đất tranh chấp là 1074,4 m². Đối với phần diện tích lớn hơn 528m² chưa được các bên đương sự tiến hành hòa giải tại cơ sở. Đề nghị căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn B yêu cầu hủy bản án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: Tại đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phan Thị L1 (bút lục số 134) và tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/12/2002 giữa bên nhận chuyển nhượng bà Phan Thị L1 và bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn Thị N (BL 133) thể hiện bà Phan Thị L1 có chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N quyền sử dụng thửa đất số 352, thuộc tờ bản đồ số 09, diện tích 5.009m² và thửa đất số 339, thuộc tờ bản đồ số 09, diện tích 16.048m², tổng diện tích 21.057m² đều tại xã P, huyện A, tỉnh Gia Lai (nay là thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai), lý do chuyển nhượng là “cho con ruột”. Tại phiên tòa phúc thẩm bà L1, cùng ông Nguyễn Văn C (là con của bà N) cũng thừa nhận nguồn gốc thửa đất là của bà L1 tặng cho các con, nên có đủ căn cứ khẳng định nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Phan Thị L1 đã tặng cho các con là phù hợp.
Bị đơn ông Nguyễn Văn B cho rằng ông được bà L1 tặng cho diện tích 1.400m² và khai hoang thêm phần suối nên diện tích tăng thêm chứ không có lấn chiếm đất của nguyên đơn. Xét thấy tại đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phan Thị L1 (bút lục số 134) thể hiện bà L1 đã trực tiếp sử dụng diện tích đất trên từ năm 1975, bị đơn ông Bình sinh năm 1970 như vậy tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất ông B chỉ mới 5 tuổi nên việc bị đơn cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp với bà N là do bà L1, cùng anh chị em khai hoang mà có là không phù hợp.
Ngoài ra, ngày 16/5/2000 bị đơn ông B được UBND huyện A cấp GCNQSDĐ số R302934 diện tích 833m²; ngày 22/01/2003 nguyên đơn bà N được UBND huyện A cấp GCNQSDĐ số W187505 diện tích 16.048m² tại thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (trong đó phần diện tích đất tranh chấp là 1.074,4m²). Tại phiên tòa bà L1 và người làm chứng đều khẳng định bà L1 chỉ cho một lần phần diện tích đã được công nhận cho ông B là 833m² vị trí từ cây mít (hiện nay vẫn còn) đến chuồng bò cũ (ông B đã dỡ) phần đất mà ông B đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn giữa phần đất của bà N và ông B không có đất trống để khai hoang, quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm cũng đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đã thể hiện rõ trong kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất tranh chấp. Bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bị đơn cho rằng thửa đất đó bị đơn khai hoang, do đó lời trình bày của bị đơn là chưa đủ căn cứ để chấp nhận.
Bị đơn ông B còn kháng cáo cho rằng thửa đất tranh chấp được cấp giấy chứng nhận cho bà Nguyễn Thị N hiện nay đã hết thời hạn sử dụng đất nên nguyên đơn không có quyền khởi kiện bị đơn. Xét thấy, tại giai đoạn phúc thẩm nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ553772 đối với thửa đất 352, tờ bản đồ số 9, diện tích 5009m² địa chỉ thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 03/6/2024 cho người sử dụng bà Nguyễn Thị N có nội dung thời hạn sử dụng đến ngày 01/7/2064, nguồn gốc sử dụng: Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm (BL250) bà N đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Và căn cứ vào Điều 126 của Luật đất đai năm 2013 quy định: “... Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản này”. Do đó vấn đề này không ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của nguyên đơn.
Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tại phiên tòa đề nghị hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết lại vì lý do chưa hòa giải đối với phần diện tích lớn hơn diện tích đất nguyên đơn khởi kiện ban đầu, cần thực hiện việc hòa giải lại cho đúng trình tự thủ tục tố tụng với phần diện tích đất tranh chấp thực tế lớn hơn sau khi cấp sơ thẩm xem xét thẩm định tại chỗ so với diện tích khởi kiện ban đầu. Xét việc hòa giải là nguyên tắc được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nhằm mục đích khuyến khích các bên tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thống nhất được với nhau và đã thể hiện rõ ý chí có hòa giải nhiều lần cũng không thể hòa giải vụ án này. Tại 02 biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã P ngày 25/7/2022 và ngày 04/8/2022 (BL15-19) bà N và ông B đã tiến hành hòa giải hai lần tại cấp cơ sở và đối tượng hòa giải là thửa đất số 352, thuộc tờ bản đồ số 09, diện tích 5.009m² do UBND huyện A cấp ngày 22/02/2003 cấp cho bà Nguyễn Thị N (diện tích đất tranh chấp nằm trong diện tích 5.009m² và tứ cận tranh chấp không có sự thay đổi). Việc xác định chưa chính xác diện tích có tranh chấp khi khởi kiện là do chưa có số đo đạc cụ thể và chính xác của đơn vị có chuyên môn. Do vậy, vấn đề này không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án, đây không phải là căn cứ để hủy bản án sơ thẩm như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai.
Từ những phân tích nêu trên không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Văn B nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 164; khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 100; Điều 166; Điều 170; Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013.
Căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền khác đối với tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị N với bị đơn là ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N:
Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L phải trả lại cho hộ bà Nguyễn Thị N diện tích đất 1.074,4m² thuộc thửa đất số 352, tờ bản đồ số 09, địa chỉ tại thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W187505 do UBND huyện A cấp ngày 22/01/2003 cho hộ bà Nguyễn Thị N (Nay là thửa đất số 352, tờ bản đồ số 09, địa chỉ tại thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ553772 do UBND huyện Đ cấp ngày 03/6/2024 cho hộ bà Nguyễn Thị N). Vị trí cụ thể như sau:
- Phía Đông giáp đất hoang, có kích thước 22,53m + 5,78m;
- Phía Tây giáp đường bê tông có kích thước 18,33m + 1,98m;
- Phía Nam giáp đất của bà N có kích thước 8,4m + 8,85m + 2,25m + 2,02m + 9,72m + 3,68m +6,2m;
- Phía Bắc giáp đất ông B có kích thước 26,54m + 18,35m.
- (có sơ đồ kèm theo).
Ông B và bà L có nghĩa vụ tháo dỡ tài sản trên đất là 01 chuồng bò cột gỗ, vách ván, nền bê tông, mái lợp tôn, diện tích 23,52m²; 01 chuồng gà dựng bằng tôn tạm bợ, hiện không còn sử dụng; hàng rào ruộng rẫy, trụ gỗ kẽm gai, lưới B40, cao 1m2, dài 73,2m để trả lại đất cho hộ bà Nguyễn Thị N.
3. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị N tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
4. Về án phí:
Về án phí sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0004180 ngày 31/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai.
Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003050 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai. Ông B đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lê Văn Hà |
Bản án số 81/2024/DS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền khác đối với tài sản
- Số bản án: 81/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền khác đối với tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B
