|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-5-2024 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1/- Bà Trần Thị Quế Minh
2/- Bà Mai Thị Thu Hà
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2024/TLST–HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2024 về “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Anh T, sinh năm: 1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Số E N, phường I, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Anh Trần Văn T1, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số E H, tổ B, khóm H, thị Trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai ngày 26/01/2024 nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Anh T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T1 kết hôn vào năm 2006, hôn nhân là do anh chị tự tìm hiểu và được gia đình hai bên đồng ý, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường I, quận P, thành phố Hồ Chí Minh ngày 01/3/2006, giấy kết hôn số 027. Sau khi kết hôn vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn T1.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Ngọc A Thư sinh ngày 22/6/2006 và Trần Văn T2 sinh ngày 07/10/2008, hiện nay đang sống với chị, sau khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi 02 con không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trần Văn T1: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án có tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng phía bị đơn đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tại giai đoạn sơ thẩm những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng quy định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Anh T; về con chung giao 02 con chung cho chị Nguyễn Ngọc A1 Thái được tiếp tục nuôi dưỡng và anh Trần Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Ngọc Anh T là nguyên đơn trong vụ kiện, có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Văn T1 là bị đơn trong vụ kiện đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Ngọc Anh T và anh Trần Văn T1.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Anh T và anh Trần Văn T1 kết hôn với nhau vào năm 2006, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường I, quận P, thành phố Hồ Chí Minh ngày 01/3/2006, giấy kết hôn số 027. Do vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét về mối quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị T và anh T1 chung sống hạnh phúc không lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nay mỗi người có cuộc sống riêng, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn T1. Đối với anh T1 qua 2 lần mời hòa giải tại tòa anh đều vắng mặt, cán bộ Tòa án có đến tận địa phương nhưng vẫn không ghi được lời khai do anh T1 vắng mặt. Xét thấy, thời gian chung sống hạnh phúc không lâu thì phát sinh mâu thuẩn và mỗi người đều có cuộc sống riêng, hai bên không có thiện chí hàn gắn lại quan hệ tình cảm, khả năng hàn gắn là không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là hoàn toàn phù hợp.
[3] Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung tên Trần Ngọc A Thư sinh ngày 22/6/2006, và Trần Văn T2 sinh ngày 07/10/2008 hiện nay đang sống với chị, sau khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi 02 con không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng. Xét thấy từ khi ly thân đến nay 02 cháu Anh T3 và T2 sống với chị T cuộc sống đã ổn định, tại bản tự khai cùng ngày 26/01/2024 cháu Nguyễn Trần Ngọc Anh T4 và cháu Trần Văn T2 đều có nguyện vọng sống với mẹ. Xét nghĩ không nên làm xáo trộn cuộc sống của các cháu nên giữ nguyên việc nuôi con như hiện nay cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ vào điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Nguyễn Ngọc Anh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc Anh T.
Chị Nguyễn Ngọc Anh T được ly hôn với anh Trần Văn T1.
-
- Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc Anh T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Ngọc A Thư sinh ngày 22/6/2006, và Trần Văn T2 sinh ngày 07/10/2008, anh Trần Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền tới lui, thăm nom con chung cho anh T1, không ai được cản trở.
-
- Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc Anh T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004492 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Chị Nguyễn Ngọc Anh T và anh Trần Văn T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Kim Hoa |
Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc Anh Thái. Chị Nguyễn Ngọc Anh Thái được ly hôn với anh Trần Văn Thôm.
