Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/DS-PT

Ngày: 29/11/2023

“Về việc tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tạ Duy Ước

Các Thẩm phán: ông Bùi Đức Tuấn

ông Nguyễn Hồng Ánh

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: ông Lê Khắc Sơn - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 68/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất"

Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2023/QĐ-PT ngày 31/8/2023 ; quyết định hoãn phiên tòa số 151/2023/QĐ- PT ngày 22/11/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1931; nơi thường trú khu K, phường C, thị xã Q, Quảng Ninh, có mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Phạm Văn L - Công ty L2. Địa chỉ chi nhánh K1, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

  2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1976; nơi thường trú: khu K, phường C, thị xã Q, Quảng Ninh, có mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đặng Văn C - Văn phòng L3; Địa chỉ: Số F T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội, có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - UBND thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Địa chỉ số A phố T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

      Người đại diện theo pháp luật ông Trần Đức T1 - Chức vụ: Chủ tịch; Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Minh H - Chức vụ: Giám đốc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Vắng mặt không có lý do

    • - UBND phường C, thị xã Q. Địa chỉ: khu K, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

      Người đại diện theo pháp luật ông Phạm Văn S - Chức vụ: Chủ tịch; Người đại diện theo ủy quyền: ông Vũ Quang L1 - Chức vụ: Công chức địa chính xây dựng, Vắng mặt không có lý do

    • - Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1977.

      Nơi cư trú: khu K, phường C, thị xã Q, Quảng Ninh, có mặt.

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Nguyễn Thị T2: Luật sư Đặng Văn C - Văn phòng L3; Địa chỉ: Số F T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội, có mặt.

  4. Người kháng cáo: bị đơn anh Nguyễn Văn K

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông là chủ sử dụng thửa đất số 440 tờ bản đồ số 19 với diện tích 1.605m² (đất ở 300m²; đất trồng cây lâu năm 1.305m²) tại địa chỉ khu K, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Thửa đất trên có nguồn gốc từ bố mẹ ông là Nguyễn Văn M (đã chết) và Vũ Thị X (đã chết) nhận tặng cho của các cụ sử dụng từ trước năm 1930. Năm 1948 ông lấy vợ là Bà Đặng Thị N (chết năm 2006), bố mẹ ông để lại thửa đất này cho vợ chồng ông quản lý sử dụng. Năm 2004 ông làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND huyện Y (nay là thị xã Q) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 019643, số vào sổ cấp GCN 09511 ngày 28/7/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất trên. Thời gian gần đây ông mới được biết con trai ông là Nguyễn Văn K đã tự ý làm Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vào ngày 01/6/2005. Hợp đồng được lập tại UBND xã C (nay là phường C), có xác nhận của chủ tịch UBND xã C (ông Nguyễn Tiến B) và có chữ ký của các bên. UBND huyện Y (nay là thị xã Q) căn cứ theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên đã sang tên cho con trai ông là Nguyễn Văn K và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 804792 số vào sổ cấp GCN: H 09012 cấp ngày 24/8/2005. Việc lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vào ngày 01/6/2005 vợ chồng ông không hề hay biết và chữ ký trong hợp đồng tặng cho tên Nguyễn Văn TĐặng Thị N hoàn toàn giả mạo.

Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông với anh Nguyễn Văn K vô hiệu.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn K xác nhận về nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp như ông T trình bày là đúng. Năm 1995 anh kết hôn với chị Nguyễn Thị T2 và chung sống cùng với bố, mẹ anh trên thửa đất này, đến năm 2005 bố, mẹ anh bảo cho vợ chồng anh toàn bộ thửa đất trên. Ngày 01/6/2005 bố, mẹ anh ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng cho vợ chồng anh, hợp đồng được lập tại UBND xã C (nay là phường C), tại thời điểm đó bố anh là ông Nguyễn Văn T, mẹ anh là bà Nguyễn Thị N1 và vợ chồng anh đều có mặt và ký vào hợp đồng tặng cho có xác nhận của UBND xã C. Sau khi hoàn tất thủ tục tặng cho theo quy định đến ngày 28/4/2005 vợ chồng anh được UBND huyện Y (nay là thị xã Q) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 0844792 vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 09912 đối với thửa đất trên. Đến ngày 14/9/2017 UBND thị xã Q cấp đổi giấy chứng nhận số CE 013473 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01412. Từ khi nhận tặng cho vợ chồng anh vẫn sinh sống trên thửa đất này cùng với bố mẹ anh. Năm 2016 vợ chồng anh có tích cóp vay mượn thêm để mua một thửa đất cách nhà khoảng 100m và xây nhà ở riêng, bố anh vẫn ở tại thửa đất cũ. Anh K có quan điểm không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2 trình bày: Chị đồng ý với quan điểm của anh K. Việc bố mẹ chồng chị tặng cho thửa đất trên cho vợ chồng chị là có thật và đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật, chữ ký và chữ viết trong hợp đồng tặng cho là của của bố mẹ chồng chị, do đó việc bố chồng chị ông Nguyễn Văn T yêu cầu tòa án tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu là không có cơ sở, chị đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông T để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng chị.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND thị xã Q và UBND phường C có quan điểm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 440 tờ bản đồ số 19 với diện tích 1.605m² (đất ở 300m²; đất trồng cây lâu năm 1.305m²) tại địa chỉ khu K, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Văn K được UBND phường C xác nhận ngày 01/6/2005 sau đó được UBND thị xã Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 804792 số vào sổ cấp giấy H 09912 cấp ngày 24/8/2005 là đúng quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã ký vào ngày 01/6/2005 đối với diện tích 1.605m² (đất ở 300m²; đất trồng cây lâu năm 1.305m²) tại địa chỉ khu K, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N1 và anh Nguyễn Văn K, được UBND xã C (nay là phường C), thị xã Q xác nhận vô hiệu.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 21/7/2023 bị đơn anh Nguyễn Văn K có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không bổ sung tài liệu chứng cứ mới. Phần tranh luận các đương sự giữ nguyên các quan điểm đã trình bày tại phiên tòa. Đại diện viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng, đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: giữ nguyên đường lối giải quyết vụ án tại Bản án sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên; sửa bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng Điều 124, Điều 166 Bộ luật dân sự, Điều 206 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 203 Luật đất đai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và trong hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.

Về quan hệ tranh chấp: Hợp đồng ngày 01/6/2005 được lập tại UBND xã C (nay là phường C) các bên tranh chấp có hình thức ghi là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng nội dung hợp đồng có ghi nội dung là “Bố mẹ cho con không lấy tiền” và lời khai của bị đơn cũng khẳng định được ông T, bà N1 cho quyền sử dụng đất nên xác định hợp đồng tranh chấp giữa các bên là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mới đúng quy định của pháp luật. Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm xác định “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là chưa chính xác nhưng không thay đổi về nội dung tranh chấp nên cần rút kinh nghiệm.

Về người tham gia tố tụng: Hợp đồng tặng cho tài sản có đối tượng hợp đồng là tài sản chung của ông T và bà N1, tại hợp đồng có tên bà N1 là bên cho tặng, sau ngày ghi trong hợp đồng thì bà N1 chết. Nay ông thành yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì những người thừa kế của bà N1 phải được triệu tập tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng cấp sơ thẩm chưa triệu tập họ tham gia tố tụng là chưa đầy đủ. Tuy nhiên, trong vụ án chỉ có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, đối tượng hợp đồng vẫn do ông T quản lý sử dụng nên khi hợp đồng vô hiệu thì tài sản vẫn được giữ nguyên tình trạng ban đầu và chưa xác lập quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản cho ai nên không ảnh hưởng đến quyền thừa kế của các đương sự đối với di sản của bà N1 để lại. Do vậy, việc triệu tập thiếu người tham gia tố tụng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

[2] Về nội dung:

Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Thửa đất số 440 tờ bản đồ số 19 với diện tích 1.605m² (đất ở 300m²; đất trồng cây lâu năm 1.305m²) tại địa chỉ khu K, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh có nguồn gốc của bố mẹ ông T là ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Vũ Thị X (đã chết) nhận tặng cho của các cụ sử dụng từ trước năm 1930. Năm 1948 ông T lấy vợ là bà Đặng Thị N (chết năm 2006), bố mẹ ông T để lại thửa đất này cho vợ chồng ông T quản lý sử dụng. Năm 2004 ông T làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND huyện Y (nay là thị xã Q) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 019643, số vào sổ cấp GCN 09511 ngày 28/7/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất trên và ông T là người sử dụng quyền sử dụng đất, tài sản trên đất ổn định, liên tục cho đến nay. Hiện nay, anh K không phải là người quản lý, sử dụng đất, tài sản trên đất.

Xét kháng cáo của anh K cho rằng bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp. Anh K cho rằng ông T đã đồng ý cho anh thửa đất trên nên các bên đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vào ngày 01/6/2005. Hợp đồng được lập tại UBND xã C, có xác nhận của chủ tịch UBND xã C (ông Nguyễn Tiến B) và có chữ ký của các bên. Căn cứ theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên, anh Nguyễn Văn K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên.

Tuy nhiên, căn cứ vào kết luận giám định số 172/KL-KTHS ngày 30/8/2022 của V Bộ C1 đã kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn T dưới mục “BÊN TẶNG CHO QDSÐ - Chồng” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký chữ viết mang tên Nguyễn Văn T trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 không phải do cùng một người ký, viết ra.

Có đủ căn cứ xác định chữ ký trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã C (nay là phường C) xác nhận sau đó được Phòng tài nguyên môi trường và UBND huyện Y (nay là thị xã Q) chấp nhận tặng cho thửa đất trên từ hộ ông Nguyễn Văn T sang hộ ông Nguyễn Văn K không phải là chữ ký của ông T, chứng cứ này phù hợp với lời khai, ý chí của ông T về việc ông không cho tặng anh K quyền sử dụng đất và tài sản trên đất và thực tế hiện nay ông T vẫn là người quản lý, sử dụng đất. Do vậy, không có căn cứ chứng minh việc ông T tham gia ký kết hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đối với anh K nên không có căn cứ chấm dứt quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông T và không có căn cứ xác lập quyền sử dụng đất, tài sản trên đất cho anh K. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T, bà Đặng Thị N và anh Nguyễn Văn K không có giá trị pháp lý .

Quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, bị đơn anh Nguyễn Văn K có đơn đề nghị giám định lại chữ ký của ông Nguyễn Văn T tại Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 01/6/2005 và đề nghị Tòa án thu thập mẫu chữ ký của ông T tại danh sách ký nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân xóm K phường C thị xã Q thời điểm năm 2004-2005 được lưu trữ tại UBND phường C để làm mẫu so sánh với chữ ký trong hợp đồng tặng cho ngày 01/6/2005 được lưu trữ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Q. Ngày 14/11/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số 19/2023/QĐ-CCTLCC có nội dung yêu cầu UBND phường C cung cấp tài liệu là Bản gốc danh sách ký nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân trên địa bàn xóm K, phường C thời điểm năm 2004-2005. Ngày 24/11/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận được công văn số 161/UBND ngày 21/11/2023 của UBND phường C trả lời về việc không lưu giữ được bản chính, bản photo danh sách ký nhận sổ đỏ của xóm K nên không thể cung cấp được cho Tòa án. Như vậy đối với yêu cầu giám định lại chữ ký của anh K do không thể thu thập được mẫu chữ ký theo yêu cầu của anh K để so sánh làm căn cứ giám định nên không có căn cứ để tiến hành việc giám định lại chữ ký.

Trong quá trình giải quyết Tòa án đã giải thích và lấy lời khai của các đương sự về việc có yêu cầu giải quyết hậu quả của Hợp đồng hay không, các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng, nên HĐXX không xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Từ những nhận định trên, hội đồng xét xử nhận thấy cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Tuy nhiên, tại phần quyết định bản án sơ thẩm có tuyên “Ông Nguyễn Văn T có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động tên người sử dụng đất”. Trong trường hợp này, nếu ông T thực hiện điều chỉnh biến động đứng tên ông T đối với toàn bộ quyền sử dụng đất, trong khi di sản của bà N để lại chưa được những người thừa kế phân chia sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế trong đó có quyền thừa kế của bị đơn và những người thừa kế khác. Do vậy, cần sửa phần quyết định trên của bản án để đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế theo quy định của pháp luật.

Do hợp đồng vô hiệu không phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên nhưng UBND thị xã Q đã căn cứ vào hợp đồng đó để thực hiện đăng ký biên động cho anh K (Cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh K theo hợp đồng tặng cho) nên UBND thị xã Q có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ công vụ để thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên theo đúng quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở bác toàn bộ kháng cáo của bị đơn.

[3] Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của anh K không được chấp nhận nhưng Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm nên anh K không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 313, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn K. Sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ Điều 117; Điều 119; Điều 122, Điều 131; Điều 500, Điều 502 Điều 688 Bộ luật dân sự; Căn cứ: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với anh Nguyễn Văn K về việc tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu.

  1. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (được ghi là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) ngày 01/6/2005 đối với thửa đất diện tích 1.605m² (đất ở 300m²; đất trồng cây lâu năm 1.305m²) thuộc thửa đất số 440 tờ bản đồ số 19 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 019643 do UBND huyện Y (nay là thị xã Q) cấp ngày 22/7/2004 địa chỉ xóm K, xã C, huyện Y (nay là phường C, thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N1 và anh Nguyễn Văn K, được UBND xã C (nay là phường C), thị xã Q xác nhận bị vô hiệu.

    Ủy ban nhân dân thị xã Q có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ công vụ đối với với việc đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất theo đúng quy định của pháp luật.

  2. Về chi phí giám định: nguyên đơn ông Nguyễn Văn T tự nguyện chịu.
  3. Về án phí: anh Nguyễn Văn K phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được trừ đi số tiền 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0010323 ngày 31/7/2023 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên.
  4. Trả lại anh Nguyễn Văn K số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) anh K đã nộp tạm ứng để trưng cầu giám định lại.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND thị xã Quảng Yên;
  • - THA, VP;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Duy Ước

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Ánh

Bùi Đức Tuấn

Tạ Duy Ước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2023/DS-PT ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 81/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger