Hệ thống pháp luật

TAND TP. PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/DSST

Ngày: 29-7-2024.

Về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Bính
  2. Ông Phạm Định Quốc.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Châu - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 212/2023/TLST- DS ngày 28/6/2023 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST – DS ngày 24/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 485/2024/QĐST – DS ngày 11/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Dụng Thanh T, sinh năm 1982,

Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

1. Bà Pham Thị Thanh T1 – sinh năm 1965; Trú tại: Thôn T, xã T, P, Bình Thuận.

2. Phạm Thúy H – sinh năm 1974; Trú tại: Khu phố F, phường Đ, Tp ., tỉnh Bình Thuận

- Bị đơn: Ông Hoàng Quốc P, sinh năm 1976

Bà Phạm Thị D, sinh năm 1982

Địa chỉ: Khu phố B, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1983; Địa chỉ: khu phố E, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên toà có mặt người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Vắng mặt bị đơn ông Hoàng Quốc P, bà Phạm Thị Dư.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng như đại điện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Dụng Thanh T cùng vợ là bà Nguyễn Xuân T2 có quan hệ quen biết với nhau. Ông T và bà Nguyễn Xuân T2 cũng đã nhiều lần cho vợ chồng Hoàng Quốc PPhạm Thị D vay tiền và cũng có trả nợ đầy đủ vào những năm trước 2012 nhưng đến thời gian năm 2013 vợ chồng bà D và ông P đã liên tục vay nợ tổng cộng 215.000.000đ với lãi suất thoả thuận là 1,5%/tháng gồm 9 hợp đồng:

  • - Ngày 16/7/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 27/7/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 5.000.000 đồng.
  • - Ngày 22/8/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 31/8/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 14/9/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 20.000.000 đồng.
  • - Ngày 30/9/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 09/10/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 40.000.000 đồng.
  • - Ngày 25/10/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 29/6/2014 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 100.000.000 đồng.

Trong các hợp đồng trên chỉ có hợp đồng ngày 9/10/2013 được ký kết giữa bà Nguyễn Xuân T2 và vợ chồng bà Phạm Thị D, ông Hoàng Quốc P là được công chứng tại văn phòng C tỉnh Bình Thuận. Còn các hợp đồng ngày 16/7/2013, 27/7/2013, 22/8/2013, 22/8/2013, 31/8/2013, 14/9/2013, 30/9/2013, 25/10/2013, 29/6/2014 đều do bà D ký nhận.

Trong hợp đồng vay thỏa thuận thời gian vay tiền 6 tháng sau trả tiền, lãi thoả thuận 1,5%/tháng, nhưng cho đến thời điểm này mặc dù vợ chồng bà T2 ông T đã đòi rất nhiều lần nhưng bà D ông P vẫn cố tình không trả khoản nợ mà đã nợ của vợ chồng nguyên đơn. Nhiều lần nguyên đơn đã nhắn tin để đòi khoản nợ trên nhưng bà D vẫn hứa hẹn nhiều lần nhưng không trả. Đến ngày 21/3/2023 nguyên đơn còn nhắn tin đòi tiền bà D nhưng không hề có hồi âm trả lời cũng không trả tiền cho nguyên đơn được khoản tiền gốc, lãi nào.

Đây là hợp đồng vay tài sản có thoả thuận lãi phù hợp với quy định của bộ luật dân sự nguyên đơn làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bị đơn ông Hoàng Quốc P, bà Phạm Thị D có trách nhiệm trả khoản tiền nợ gốc 215.000.000đồng và khoản tiền lãi từ ngày 29/6/2014 đến thời điểm xét xử sơ thẩm cho vợ chồng nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Tạm tính đến thời điểm khởi kiện số tiền từ ngày 29/6/2014 đến tháng 03/2023 là 105 tháng x 375.000.000 đồng = 375.000.000 đồng.

* Đối với bị đơn ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị Dư. Mặc dù, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng bị đơn không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có lời khai, tài liệu chứng cứ gì trình bày về sự việc trên. Tòa án đã lập biên bản ghi nhận sự vắng mặt của bị đơn và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, đồng thời thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bị đơn ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị Dư. Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị Dư. Tại phiên tòa xét xử hôm nay là phiên tòa xét xử thứ hai bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không đến tòa tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn cũng như đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể thay đổi như sau:

  1. Yêu cầu bà Phạm Thị D phải có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng nguyên đơn số tiền vay là 175.000.000 đồng tiền gốc đối với 08 hợp đồng vay tài sản bằng giấy đánh máy có chữ ký của bà Phạm Thị D nhưng không có công chứng. Qua giám định xác định là chữ ký của bà Phạm Thị Dư. Tính từ thời điểm vay cuối cùng tháng 6 năm 2014. Thời gian bắt đầu tính lãi là tháng 01/2015 đến thời điểm xét xử sơ thẩm là tháng 7 năm 2024 tổng cộng là 115 tháng với lãi suất 0,75%/tháng = 1.312.500đ/tháng. Như vậy số tiền lãi yêu cầu bà D phải trả là 175.000.000 x 0,75% x 115 tháng = 150.937.500 đồng.
  2. Yêu cầu ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D phải có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng nguyên đơn số tiền 40.000.000đ tiền gốc do ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D cùng ký nhận vay tiền ngày 09/10/2013 có công chứng. Lãi suất cho vay trong hợp đồng công chứng là 1,5 %/tháng tức là 18%/năm. Nay yêu cầu là 13,5%/1 năm cho phù hợp với Điều 476 Bộ luật dân sự 2005, được tính là: 40.000.000đ x 1,125%= 450.000đ/tháng tính từ ngày 29/6/2014 đến 29/7/2024 là 121 tháng. Như vậy số tiền lãi yêu cầu ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D phải trả là 40.000.000đ x 1,125% x 121 tháng = 54.450.000 đồng.

Cùng lãi suất chậm thanh toán trên mức dư nợ gốc kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bị đơn phải trả xong số nợ trên cho nguyên đơn theo đúng quy định pháp luật.

Sau khi những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Bị đơn không chấp hành đúng pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D vắng mặt không có lý do, đây là lần thứ hai ông P, bà D vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D phải trả cho vợ chồng nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi là 94.450.000₫ (40.000.000 đồng tiền gốc + 54.450.000 đồng tiền lãi). Buộc bà Phạm Thị D trả khoản tiền gốc và lãi là 325.937.500 đồng (175.000.000 đồng tiền gốc + 150.937.500 đồng tiền lãi) và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và do bị đơn vắng mặt nên nguyên đơn không tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1. Thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu phía bị đơn ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D phải trả cho vợ chồng ông bà số tiền vay. Bị đơn ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D có nơi cư trú tại phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ theo qui định tại khoản 03 Điều 26, điểm a khoản 01 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

1.2. Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Bị đơn ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D có nơi cư trú tại khu phố B, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Đó cũng là địa chỉ bị đơn đã ghi vào trong giấy vay tiền. Qua xác minh tại cơ quan công an cho biết, tại thời điểm tòa án thụ lý vụ án bị đơn bà Phạm Thị D không có mặt tại nơi cư trú, hiện đi đâu, làm gì không rõ. Bị đơn ông Hoàng Quốc P vẫn đang cư trú tại địa phương và Công an có cung cấp số đei65n thoại của ông P trong bản xác minh. Tuy nhiên, khi cán bộ tống đạt tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng thì ông Hoàng Quốc P cố tình trốn tránh, thường xuyên vắng mặt tại nhà nên không tiến hành tống đạt trực tiếp được nên đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đúng quy định pháp luật. Việc bị đơn bà Phạm Thị D đi khỏi nơi cư trú mà không thông báo cho chính quyền địa phương cũng như người mà mình phải có nghĩa vụ được xem là cố tình dấu diếm địa chỉ, vì vậy Tòa án tiến hành lập biên bản về việc không tống đạt được văn bản tố tụng và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của bị đơn theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.3. Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không có yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không áp dụng thời hiệu khi giải quyết vụ án.

1.4. Về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện từ yêu cầu khởi kiện ban đầu là yêu cầu vợ chồng bị đơn ông Hoàng Quốc P, bà Phạm Thị D phải có trách nhiệm trả khoản tiền nợ gốc 215.000.000đ và khoản tiền lãi từ ngày 29/6/2014 đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 29/7/2024 cho vợ chồng nguyên đơn theo quy định của pháp luật thành buộc bị đơn ông Hoàng Quốc P, bà Phạm Thị D trả cho vợ chồng nguyên đơn khoản tiền gốc và lãi là 94.450.000 đồng (trong đó tiền gốc 40.000.000đồng và 54.450.000 đồng tiền lãi). Buộc bà Phạm Thị D trả khoản tiền gốc và lãi là 325.937.500đồng (trong đó tiền gốc là 175.000.000đồng và 150.937.500đồng tiền lãi), cùng lãi suất chậm thanh toán kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bị đơn phải trả xong số nợ trên cho nguyên đơn theo quy định pháp luật.

Xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

1.5. Về áp dụng pháp luật nội dung: Hợp đồng vay này của các đương sự đã được ký kết năm 2013, trước ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực. Hợp đồng này chưa thực hiện xong, tuy nhiên giữa Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sự 2015 có quy định khác nhau về lãi suất nên căn cứ quy định của Điều 688 Bộ luật dân sự 2015 về điều khoản chuyển tiếp Hội đồng xét xử áp dụng quy định của bộ luật dân sự 2005 để giải quyết vụ án.

[2] Nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Hoàng Quốc P, bà Phạm Thị D trả cho vợ chồng nguyên đơn khoản tiền gốc và lãi là 94.450.000 đồng (trong đó tiền gốc 40.000.000 đồng và 54.450.000 đồng tiền lãi). Buộc bà Phạm Thị D trả khoản tiền gốc và lãi là 325.937.500đồng (trong đó tiền gốc là 175.000.000đồng và 150.937.500đồng tiền lãi), cùng lãi suất chậm thanh toán kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bị đơn phải trả xong số nợ trên cho nguyên đơn theo quy định pháp luật.

Chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là 09 hợp đồng cho vay (bản chính) và các tin nhắn qua lại giữa bà D và ông T. Cụ thể:

  • - Ngày 16/7/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 27/7/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 5.000.000 đồng.
  • - Ngày 22/8/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 31/8/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 14/9/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 20.000.000 đồng.
  • - Ngày 30/9/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 09/10/2013 bà Phạm Thị D cùng ông Hoàng Quốc P ký hợp đồng vay 40.000.000 đồng.
  • - Ngày 25/10/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 29/6/2014 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay 100.000.000 đồng.

Đây là hợp đồng cho vay có kỳ hạn. Có hợp đồng có thỏa thuận lãi suất, có hợp đồng không thỏa thuận rõ lãi suất.

Tại phiên tòa bị đơn không có mặt, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ chứng minh thể hiện: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ để chứng minh hoặc không đưa ra đủ chứng cứ để chứng minh thì Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án”.

Trong vụ án này nguyên đơn đưa ra các chứng cứ cho rằng bị đơn có thiếu nợ của nguyên đơn bằng các hợp đồng vay tiền, các tin nhắn hẹn nợ. Tuy nhiên bị đơn lại cố tình trốn tránh, không chịu đến tòa án để trình bày rõ về việc mình có nợ của nguyên đơn hay không và đưa ra những chứng cứ để chứng minh cho mình nên tòa án căn cứ vào toàn bộ hồ sơ tài liệu hiện có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án.

Xét hợp đồng vay tiền ngày 09/10/2013 đã có công chứng tại Phòng C1, tỉnh Bình Thuận giữa bà Nguyễn Xuân T2 (vợ ông T - là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án) ký cùng bà Phạm Thị D và ông Hoàng Quốc P thể hiện ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D có vay bà Nguyễn Xuân T2 số tiền 40.000.000 đồng. Thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày vay 09/10/2013. Lãi suất thỏa thuận là 1,5%/tháng. Căn cứ quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng”. Tuy nhiên, ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D đã vi phạm hợp đồng không trả tiền cho nguyên đơn vì vậy có căn cứ buộc ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D phải trả cho ông Dụng Thanh T và bà Nguyễn Xuân T2 số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với yêu cầu tính lãi của khoản vay này Hội đồng xét xử xét thấy:

Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định về mức lãi suất: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhànước công bố tại thời điểm vay theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng N quy định là 9%/năm. Đồng thời theo quy định của khoản 5 điều 474 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

Mặc dù đối với khoản tiền này trong hợp đồng các bên có thỏa thuận lãi suất là 1,5%/tháng, tuy nhiên nay nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền vay này với mức lãi là 13,5%/năm = 1,125%/tháng,tính từ thời điểm ngày 29/6/2014 đến thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 29/7/2024 là 121 tháng. Cụ thể số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả là: 40.000.000đ x 1,125% x 121 tháng = 54.450.000 đồng là không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố. Yêu cầu trả lãi này là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 nên được chấp nhận.

Đối với các hợp đồng vay ngày 16/7/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay ông Dụng Thanh T số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 27/7/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay ông Dụng Thanh T số tiền 5.000.000 đồng. Ngày 22/8/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay ông Dụng Thanh T số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 31/8/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay ông Dụng Thanh T số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 14/9/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay ông Dụng Thanh T số tiền 20.000.000 đồng. Ngày 30/9/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay ông Dụng Thanh T số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 25/10/2013 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay ông Dụng Thanh T số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 29/6/2014 bà Phạm Thị D ký hợp đồng vay ông Dụng Thanh T số tiền 100.000.000 đồng. Tổng cộng khoản vay này là 175.000.000 đồng. Hợp đồng vay này chỉ một mình bà Phạm Thị D ký vay. Các hợp đồng vay này không có công chứng. Thời hạn vay ngày 29/6/2014 là 03 tháng, các hợp đồng vay khác thời hạn vay là 06 tháng. Phần lãi suất của các hợp đồng này để trống nên không có căn cứ xác định các hợp đồng vay này có thỏa thuận lãi suất hay không.

Trong quá trình tòa án thụ lý giải quyết vụ án bị đơn bà Phạm Thị D cùng ông Hoàng Quốc P không đến tòa, không có ý kiến trình bày về việc khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án trưng cầu giám định chữ ký của bà D trên giấy mượn tiền bằng bản chính. Tại kết luận giám định chữ ký, chữ viết của Phòng kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh B đã xác định như sau: “………Chữ ký, chữ viết mang tên Phạm Thị D trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1-A8 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Phạm Thị D trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra”. Tài liệu mẫu so sánh là chữ ký, chữ viết của bà Phạm Thị D đã ký và viết trong hợp đồng vay ngày 09/10/2013 do ông P, bà D ký tại Phòng C1 tỉnh Bình Thuận và tàng thư lưu trữ chữ ký chữ viết của ông bà tại cơ quan Công an. Theo Điều 92, Điều 93 Bộ luật dân sự năm 2015 thì giấy vay tiền và kết luận giám định của Phòng kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh B được xem là nguồn chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ đó cho thấy nội dung trong giấy vay tiền này là có thật. Do nguyên đơn không chứng minh được khoản vay này có được bà D sử dụng vào mục đích đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình hay không nên nguyên đơn không buộc ông Hoàng Quốc P phải cùng bà D phải trả khoản nợ này mà chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Phạm Thị D phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 175.000.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.

Đối với yêu cầu tính lãi của các khoản vay này Hội đồng xét xử xét thấy: Do các hợp đồng vay này không thể hiện rõ có tính lãi suất hay không nên nay nguyên đơn chỉ yêu cầu trả lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tại thời điểm vay là 09%/năm, (0,75%/tháng) là phù hợp. Thời điểm yêu cầu tính lãi là tháng 01 năm 2015, (sau 6 tháng kể từ ngày vay cuối cùng là 29/6/2013) đến ngày xét xử 29/7/2024 là 115 tháng. Cụ thể số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu bà D phải trả là 175.000.000 đồng x 0,75%/tháng x 115 tháng = 150.937.500 đồng là phù hợp với quy định của Điều 476 bộ luật dân sự 2005 nên chấp nhận.

Ngoài ra kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn không yêu cầu Hoàng Quốc P và bà Phạm Thị D phải hoàn trả tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết nên Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 159; 160; 161; 162; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 471, Điều 474, Điều 476; 478 Bộ luật dân sự năm 2005;

Điều 357; Điều 468; 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 27, khoản 01 Điều 30, khoản 2 Điều 37 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Luật thi hành án dân sự.

2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dụng Thanh T.

Buộc ông Hoàng Quốc P, bà Phạm Thị D trả cho ông Dụng Thanh T và bà Nguyễn Xuân T2 khoản tiền nợ gốc và lãi là 94.450.000 đồng (trong đó tiền gốc 40.000.000đồng; tiền lãi là 54.450.000 đồng).

Buộc bà Phạm Thị D phải trả cho ông Dụng Thanh T và bà Nguyễn Xuân T2 khoản tiền nợ gốc và lãi là 325.937.500 đồng (trong đó tiền gốc là 175.000.000đồng; tiễn lãi là 150.937.500 đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3/ Về chi phí giám định: Nguyên đơn tự chịu nên Hội đồng xét xử không xét

4/ Về án phí: Buộc ông Hoàng Quốc P, bà Phạm Thị D phải chịu 4.722.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Phạm Thị D còn phải chịu 16.296.000 đồng đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản nợ phải trả riêng.

H1 lại số tiền 13.795.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp trước đó theo biên lai thu tiền số 0018473 ngày 26/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Tp. Phan Thiết cho nguyên đơn ông Dụng Thanh T.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo bản án này của nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo bản án của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh;
  • - VKS Tp. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Thiết;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Nguyễn Thị Hồng Hạnh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/DSST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 81/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger