Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HSST

Ngày: 29/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trang
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Phước Lộc
    • Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Tô Minh Triết, sinh ngày 24/9/1989 tại Phú Quốc, Kiên Giang; Nơi ĐKTT: Ấp Búng Gội, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Ấp Búng Gội, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Tô Thành Tâm, sinh năm 1969 và bà Trần Thị Thanh Thuý, sinh năm 1971; Vợ: Lê Kim Phụng, sinh năm 1986 (Đã ly hôn); Con có 01 người, sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không nhưng về nhân thân ngày 13/10/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc (nay là thành phố Phú Quốc) xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại bản án số 88/2006/HSST. Đã chấp hành xong bản án; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2023 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2/ Họ và tên: Lê Xuân Hào, sinh ngày 08/5/1980 tại Châu Đốc, An Giang; Nơi ĐKTT: Khóm Châu Long 4, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Ấp Suối Mây, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Xuân Hoàng, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị Sạy, sinh năm 1947; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc Dung, sinh năm 1982 (Đã ly hôn); Con có 02 người, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không nhưng về nhân thân, ngày 21/02/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 15 tháng. Đến ngày 18/01/2020 chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2023 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 27/11/2023, do cần ma túy để sử dụng nên Tô Minh Triết dùng điện thoại di động hiệu OPPO của mình gọi cho người đàn ông (chưa rõ nhân thân) hỏi mua 6.000.000 đồng ma túy đá và hẹn địa điểm mua bán tại đường Phan Đình Phùng thuộc khu phố 1, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Triết thuê xe Taxi chở đến điểm hẹn mua ma túy rồi điện thoại rủ Trương Hồng Muội đến phòng số 13 nhà trọ “Lâm Thư” của Lê Xuân Hào thuộc ấp Suối Mây, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc để tổ chức uống bia. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Triết và Muội đến phòng trọ của Hào, lúc này Triết hỏi Hào có dụng cụ để sử dụng ma túy không thì Hào đưa cho Triết 01 cái nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa và 01 ống hút nhựa, Triết lắp ráp thành 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy, Triết lấy bịch ma túy vừa mua đổ một ít vào nỏ thủy tinh để sử dụng, đồng thời chia ra thêm 01 bịch ma túy cho Hào sử dụng, số ma túy còn lại trong bịch Triết cất giấu vào trong túi da để bên cạnh chỗ Triết ngồi. Đối với Lê Xuân Hào, sau khi nhận bịch ma túy Triết cho, Hào chia ra thêm 01 ít bỏ vào trong đoạn ống nhựa được hàn kín cất giấu vào tay áo khoát Jean treo trên võng, còn bịch ma túy Hào cất giấu trên đầu tủ quần áo, sau đó Hào chạy xe đi mua bia và thức ăn về để cùng Triết, Muội sử dụng. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, Hào quay về phòng trọ, cùng Triết và Muội uống bia và sử dụng ma túy, Muội hút được 02 hơi ma túy thì bỏ đi vì có việc riêng, còn Triết và Hào tiếp tục ở lại sử dụng ma túy. Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, Muội quay trở lại phòng trọ của Hào, ngồi cùng với Triết và Hào thì lúc này Công an thành phố Phú Quốc kiểm tra hành chính phòng số 13 nhà trọ “Lâm Thư” phát hiện Triết, Hào và Muội đang sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngày 06/12/2023, Tô Minh Triết và Lê Xuân Hào bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phú Quốc khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

  • - Gói 1: 01 (một) bịch nylon màu trắng có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước khoảng 7,2cm x 11,2cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất, thu giữ trong túi da màu xanh đen, đã được niêm phong;
  • - Gói 2: 01 (một) bịch nylon màu trắng có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước khoảng 4,8cm x 6,3cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất, thu giữ trên đầu tủ vãi, đã được niêm phong;
  • - Gói 3: 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 01cm x 05cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất, thu giữ trong tay áo khoác Jean, đã được niêm phong;
  • - Gói 4: 01 (một) đầu nỏ bằng thủy tinh, bên trong có chứa chất kết dính, đã được niêm phong;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 màu vàng, số IMEI1: 358131096697314/01, IMEI2 358132096697312/01 đã qua sử dụng (thu của Lê Xuân Hào).
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A76 màu xanh, số IMEI1: 869571055053235, IMEI2 869571055053227 đã qua sử dụng (thu của Tô Minh Triết).
  • - 01 (một) bình bằng nhựa và một ống hút đã qua sử dụng.

* Tại bản kết luận giám định số: 1247/KL-KTHS, ngày 04/12/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:

  • - Gói 01: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 7,1364 gam.
  • - Gói 02: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,7686 gam.
  • - Gói 03: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2474 gam.
  • - Gói 04: Chất kết dính chứa trong 01 (một) nỏ bằng thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1703 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKSPQ ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Tô Minh Triết về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Lê Xuân Hào về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo Tô Minh Triết mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng Điều 55 BLSH, Tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo Lê Xuân Hào mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng Điều 55 BLHS, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định, 01 bình bằng nhựa và một ống hút đã qua sử dụng.

Tịch thu sung công quỷ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A76 màu xanh của bị cáo Triết.

Trả lại cho bị cáo Hào 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 màu vàng.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 20 giờ 10 phút ngày 27/11/2023, tại phòng số 13 nhà trọ “Lâm Thư” thuộc ấp Suối Mây, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang của Lê Xuân Hào, Tô Minh Triết cùng Hào sử dụng trái phép chất ma túy và tổ chức cho Trương Hồng Muội sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, Triết còn tàng trữ trái phép 7,1364 gam ma túy loại Methamphetamine, Hào tàng trữ trái phép 1,4177 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, khi Triết và Hào đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Do đó, cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo Triết về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS; Truy tố bị cáo Hào về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi tổ chức sử dụng cũng như tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy nhưng vì vụ lợi của bản thân bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Triết là người cung cấp ma tuý, bị cáo Hào cung cấp dụng cụ để cùng với Trương Hồng Muội sử dụng ma tuý. Đồng thời, cả hai bị cáo còn cất giấu ma tuý để tiếp tục sử dụng. Trong khi, ma túy là chất gây nghiện, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người, gây ảnh hưởng tình hình trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm nguy hiểm khác.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà các bị cáo được xem xét khi Hội đồng xét xử quyết định hình phạt.

[5]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc về tội danh, mức hình phạt, biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

[6]. Về các vấn đề khác:

Về biện pháp tư pháp: Đối với số ma túy còn lại sau giám định, bình bằng nhựa và ống hút đã qua sử dụng do các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với điện thoại di động của bị cáo Triết do dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với điện thoại di động của bị cáo Hào do không có liên quan đến việc phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông chưa rõ nhân thân bán ma túy cho Tô Minh Triết, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phú Quốc, đang tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Đối với Trương Hồng Muội, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 143/QĐ-XPHC, ngày 30/11/2023.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Tô Minh Triết phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân Hào phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Xử phạt:

Bị cáo Tô Minh Triết 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chat ma tuý” và 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành chung là 12 (mười hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/11/2023.

Bị cáo Lê Xuân Hào 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chat ma tuý” và 01 (một) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành chung là 08 (tám) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/11/2023.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn sót lại sau giám định gồm:

  • Gói 01: Có khối lượng là 7,0988 gam được đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1247/2023 Gói 01;
  • Gói 02: Có khối lượng là 0,7488 gam được đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1247/2023 Gói 02;
  • Gói 03: Có khối lượng là 0,2301 gam được đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1247/2023 Gói 03;
  • Gói 04: Có khối lượng là 0,1335 gam được đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1247/2023 Gói 04;
  • 01 đầu nỏ bằng thủy tinh, bên trong có chứa chất kết dính, đã được niêm phong;
  • 01 bình bằng nhựa và 01 ống hút nhựa đã qua sử dụng.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A76 màu xanh, số IMEI1: 869571055053235, IMEI2 869571055053227, đã qua sử dụng của bị cáo Tô Minh Triết;

Trả lại cho bị cáo Lê Xuân Hào 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4 màu vàng, số IMEI1: 358131096697314/01, IMEI2 358132096697312/01, đã qua sử dụng;

(Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 63/QĐ-VKSPQ ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc).

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - CQTHAHS Tp. Phú Quốc;
  • - THA Tp. Phú Quốc;
  • - CQCSĐT-CA Tp. Phú Quốc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HSST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 81/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger