TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28/6/2024 V/v "Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Hùng và ông Doãn Đức Hùng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình- Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 243/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phùng Đức N, sinh năm 1999.
Địa chỉ: H, đường S, khu B, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Phù Nàm K, sinh năm 1994.
Địa chỉ: đường A, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu và lời khai trong hồ sơ, thì thấy nguyên đơn ông Phùng Đức N trình bày: Ông và bà Phù Nàm K tự nguyện thương yêu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai vào ngày 06/4/2022. Vợ chồng chưa có con chung.
Quá trình chung sống ông và bà K phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vả, ông và bà K đã ly thân, đến nay tình cảm không còn nữa, không còn sự quan tâm, chăm sóc cho nhau, nên ông tha thiết được ly hôn với bà K. Con chung chưa có. Tài sản chung ông không yêu cầu giải quyết. Nợ chung không có.
Bị đơn bà Phù Nàm K đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa, nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho ông Phùng Đức N được ly hôn với bà Phù Nàm K; Về con chung không có nên không đặt ra xem xét giải quyết. Tài sản chung các đương sự không yêu cầu, nợ chung không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu của ông N là “Ly hôn” với bà Phù Nàm K, sinh năm 1994, địa chỉ: đường A, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại biên bản tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập đương sự ngày 09/4/2024, thể hiện: Bà Phù Nàm K, sinh năm 1994 đang sinh sống tại địa chỉ: đường A, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Tại phiên tòa, bà Phù Nàm K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, ông Phùng Đức N vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án: Xét các yêu cầu của ông N:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn: Ông N và bà K tự nguyên kết hôn, có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai vào ngày 06/4/2022 theo đúng quy định tại điều 9 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014, không vi phạm các điều kiện kết hôn quy định tại điều 8 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014, nên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xét mâu thuẫn giữa ông N và bà K thì thấy: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần động viên ông N suy nghĩ về đoàn tụ vợ chồng nhưng ông N không đồng ý đoàn tụ, kiên quyết xin ly hôn với bà K và trình bày ông và bà K thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi nhau, đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện nhưng không thể khắc phục được mâu thuẫn, ông và bà K đã sống ly thân một thời gian, việc ai người đó làm, tình cảm không còn. Bên cạnh đó, bà K đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác để đến tòa án làm việc, nhưng bà K không có văn bản trình bày ý kiến cũng như đến tòa án để làm việc, chứng tỏ bà K không có thiện chí trong việc hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng nữa.
Từ đó, khẳng định mâu thuẫn giữa ông N và bà K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn, căn cứ điều 56 Luật hôn nhân & gia đình 2014 cần chấp nhận yêu cầu của ông N, cho ông N được ly hôn với bà Phù Nàm K.
[2.2] Về con chung: Ông N trình bày không có con chung và bà K không có ý kiến gì, nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Ông N và bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung: Ông N trình bày không có, bà K không có ý kiến gì. Do đó HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.4] Về án phí: Ông N phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
[3] Ý kiến nhận định của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 5, 28, 91, 92, 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Phùng Đức N.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Phùng Đức N được ly hôn với bà Phù Nàm K.
Về con chung: Ông N trình bày không có con chung và bà K không có ý kiến gì, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Ông N và bà K không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Ông N trình bày không có và bà K không có ý kiến gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Ông Phùng Đức N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về việc ly hôn, chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên lai thu số 0006726 ngày 18/3/2024 qua nộp án phí.
Báo cho ông N và bà K biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Phúc |
Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn về mâu thuẫn gia đình
