Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 81/2024/DS-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng

đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại

tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt

hại sức khỏe, tinh thần

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Nguyễn Minh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Phương Dung
  2. Ông Hồ Đắc Minh.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến - Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2024/TLST- DS ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QÐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Anh Trọng D, sinh năm 1987; cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ D1, sinh năm 1997; hộ khẩu thường trú: Tổ H, khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định hoặc ông Nguyễn Hữu Mạnh C, sinh năm 2000; hộ khẩu thường trú: Số C, T, D, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy ủy quyền công chứng số 558, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/02/2024 tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương.

2

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trịnh Văn H – Luật sư thuộc Công ty L1; địa chỉ: Tầng E, P, Tòa nhà TMS, A H, Phường Đ, Quận A, TP Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1960; địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Bà D1, ông H có mặt tại phiên tòa. Bà L vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, bản trình bày; biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn (bà D1) trình bày:

Tại đơn khởi kiện ngày 29/12/2023 và buổi làm việc tại Tòa án ngày 26/03/2024, hàng rào giữa thửa đất số 1004 của nguyên đơn và thửa đất số 804 của bị đơn được nguyên đơn xây dựng vào cuối tháng 02/2023, chỉ xây dựng lại trên các trụ rào cũ đã có kể từ khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng thửa đất số 1004 của bà Nguyễn Thị Thiên T vào tháng 11/2021, hoàn toàn không làm thay đổi hiện trạng của các trụ ranh giới trước đây. Bị đơn bà L hoàn toàn không ngăn cản hay tranh chấp gì về việc nguyên đơn rào lại ranh thửa đất số 1004. Nhưng chính bà L lại tự ý trồng một (01) trụ bê tông sang phần đất của nguyên đơn và cố tình tháo dỡ, xô ngã, phá bỏ đi 03 (ba) trụ bê tông và 03 (ba) dây hàng rào kẽm gai mà nguyên đơn đã xây dựng. Khi bà L nhiều lần lén lút cố ý thực hiện việc phá hoại hàng rào bằng trụ bê tông của nguyên đơn thì bị nguyên đơn phát hiện, nguyên đơn đã cấm bà L tiếp tục phá hoại trụ bê tông của nguyên đơn, nhưng bà L vẫn cố tình tiếp tục phá hoại hàng rào trụ bê tông của nguyên đơn. Nguyên đơn đã chụp lại những hình ảnh về việc bà L phá hoại hàng rào trụ bê tông nêu trên và cung cấp cho Tòa án kèm theo đơn khởi kiện vào ngày 29/12/2024. Ngoài ra, tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp vào ngày 12/03/2024, chính bị đơn bà L đã thừa nhận hành vi phá dỡ hàng rào nêu trên, bị đơn cho rằng nguyên đơn đã xây dựng hàng rào không đúng ranh giới cũ nên bị đơn phá bỏ. Điều này đã chứng minh rằng, bản thân bị đơn đã thừa nhận bị đơn đã cố ý xô ngã, tháo dỡ, phá bỏ hàng rào tranh chấp, làm thiệt hại tài sản của nguyên đơn. Việc nguyên đơn xây dựng lại hàng rào dựa trên các ranh giới cũ là hoàn toàn đúng pháp luật, hoàn toàn không bị phía bà L ngăn cản, nhưng bà L lại lén lút, liên tục thực hiện, cố tình tiếp tục phá hoại hàng rào trụ bê tông của nguyên đơn, mặc dù nguyên đơn đã cấm, buộc bà L chấm dứt ngay việc phá hoại này, nhưng bà L vẫn ngang nhiên cố tình tiếp tục phá hoại hàng rào trụ bê tông của nguyên đơn. Điều này khiến cho nguyên đơn phải liên tục suy nghĩ dài ngày về những việc làm ngang ngược, coi thường pháp luật, đứng trên luật, coi

3

thường chính quyền, coi thường người dân của chính bà L, nhằm để tìm ra hướng giải quyết vấn đề, nên đã làm cho nguyên đơn buồn phiền, mệt mỏi, dẫn đến sức khỏe và tinh thần bị giảm sút. Nghiêm trọng hơn, bị đơn không chỉ cố tình phá hoại hàng rào trụ bê tông của nguyên đơn, mà còn nhiều lần cố tình phá hoại hàng rào trụ bê tông của cha mẹ nguyên đơn đối với phần đất khác giáp ranh giữa hai bên. Điều này cũng thể hiện hành vi coi thường pháp luật của bị đơn; nên cũng gây ra sự buồn phiền cho chính nguyên đơn và cha mẹ của nguyên đơn, gây ra thiệt hại sức khỏe, tinh thần của nguyên đơn.

Tại bản tự khai ngày 22/03/2024, bị đơn cho rằng, bị đơn phải chịu nhiều áp lực từ gia đình của nguyên đơn là hoàn toàn không đúng sự thật, gây ra thiệt hại tinh thần cho nguyên đơn, bởi vì: Trường hợp nguyên đơn không làm sáng tỏ được lời khai của bị đơn cho rằng “Bị đơn phải chịu nhiều áp lực từ gia đình của nguyên đơn” là hoàn toàn trái sự thật; chính điều này sẽ tạo cho Thẩm phán, Thư ký, Kiểm sát viên được giao giải quyết vụ án có suy nghĩ là nguyên đơn cũng như cha mẹ nguyên đơn cũng từng có sự gây khó khăn cho nhà bị đơn trong cuộc sống. Tuy nhiên trên thực tế, cha mẹ nguyên đơn (cha mẹ của nguyên đơn là ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị D2) chưa bao giờ gây áp lực nào cho bị đơn và các con của bị đơn. Hơn nữa, cha mẹ nguyên đơn luôn hỗ trợ, giúp đỡ cho nhà bị đơn. Đặc biệt, khi phía bị đơn lập bản vẽ mới đối với phần đất giáp ranh với phần đất của cha mẹ nguyên đơn để chia thừa kế cho các con, chính ông Lê Văn H1 (cha của nguyên đơn) đã ký hồ sơ giáp ranh để bị đơn và các con bị đơn thực hiện được việc chia đất thừa kế. Tuy nhiên, sau đó, vì chính các con của của bị đơn không thỏa thuận được với nhau, nên việc chia thừa kế đất của phía bị đơn mới chưa được thực hiện xong. Nên việc bị đơn cho rằng “Bị đơn phải chịu nhiều áp lực từ gia đình của nguyên đơn”, là hoàn toàn trái sự thật.

Vì vậy, yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, gồm:

  • Buộc bị đơn bà Phạm Thị L phải bồi thường cho nguyên đơn giá trị hàng rào ranh đất là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), gồm: Giá trị của 03 trụ bê tông trụ rào là 100.000 đồng/trụ x 03 trụ = 300.000 đồng; Giá trị dây kẽm gai làm hàng rào là 200.000 đồng và tiền công làm hàng rào là 1.000.000 đồng.
  • Buộc bị đơn bà Phạm Thị L phải bồi thường thiệt hại về tinh thần cho nguyên đơn với số tiền ước tính là 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

Cộng chung số tiền là: 26.500.000đ (hai mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

4

Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu, tranh chấp gì khác.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn (ông H) trình bày:

Ông H thống nhất với ý kiến của bà D2, không có ý kiến gì thêm.

* Theo bản tự khai ngày 22/3/2024, bị đơn (bà L) trình bày:

Ông D xin rút yêu cầu về tranh chấp quyền sử dụng đất thì bà L không có ý kiến. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần cho ông D thì bà L không đồng ý vì bên phía gia đình bà L cũng chịu nhiều phần áp lực từ phía gia đình của ông D. Về yêu cầu bồi thường giá trị hàng rào thì bà L cũng không đồng ý vì gia đình bà L không phá hàng rào của ông D.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) về xác định quan hệ pháp luật, thẩm quyền thụ lý vụ án; Điều 68 BLTTDS về xác định tư cách tham gia tố tụng; Các điều từ 93 đến 97 BLTTDS về việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; Điều 195, 196 BLTTDS về trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự; Các điều từ 208 đến 211 BLTTDS về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Điều 203 BLTTDS về thời hạn chuẩn bị xét xử. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tiến hành tố tụng đúng thành phần. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy: Nguyên đơn ông D là chủ sử dụng đất đối với thửa đất số 1004, tờ bản đồ số 48, bị đơn bà L là chủ sử dụng đất đối với thửa đất số 804, tờ bản đồ số 48. Hai thửa đất này giáp ranh nhau. Hiện nay, nguyên đơn ông D cho rằng có xây dựng hàng rào vào cuối tháng 02/2023, chỉ xây dựng lại trên các trụ rào cũ, đã có kể từ khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng thửa đất số 1004 của bà Nguyễn Thị Thiên T vào tháng 11/2021, hoàn toàn không làm thay đổi hiện trạng của các trụ ranh giới trước đây. Khi làm hàng rào thì bị đơn bà L hoàn toàn không ngăn cản hay tranh chấp gì về việc nguyên đơn rào lại ranh Thửa đất số 1004. Tuy nhiên, hiện nay, bị đơn bà L đã có hành vi tháo dỡ, xô ngã, phá bỏ đi 03 (ba) trụ bê tông và 03 (ba) dây hàng rào kẽm gai mà nguyên đơn đã xây dựng nên khởi kiện với các yêu cầu như trên. Theo hồ sơ Tòa án thu thập tại biên bản hòa giải cơ sở ngày 06/12/2023 tại UBND xã T thì bị đơn bà L có thừa nhận việc nhổ các trụ rào do không đồng ý với hàng rào mà nguyên đơn đã làm.

Như vậy, việc bị đơn bà L có hành vi nhổ các trụ rào, kẽm gai là hành vi trái pháp luật với lỗi cố ý đã hủy hoại tài sản của nguyên đơn ông D. Do đó, yêu

5

cầu của nguyên đơn ông D về bồi thường thiệt hại tài sản là có căn cứ để chấp nhận. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần, nguyên đơn ông D không chứng minh được thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm nên không có căn cứ để chấp nhận.

Căn cứ vào các chứng cứ của đương sự cung cấp, toà án thu thập và quy định định của pháp luật tại Điều 584, 585, 586, 588, 589, 590 Bộ luật dân sự 2015, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về phạm vi khởi kiện: Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 20 m² (chiều rộng 0,2 m, chiều dài 100,05 m) thuộc thửa đất số 1004, tờ bản đồ số 48 tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu đã rút. Căn cứ vào Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết yêu cầu bồi thường giá trị hàng rào ranh đất (gồm 08 trụ bê tông, dây kẽm gai, tiền công làm hàng rào) với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) và bồi thường thiệt hại về tinh thần số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) của ông D.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Các đương sự tranh chấp về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần”, theo quy định tại Điều 26, 27 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Lý n tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dươngtheo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Về thủ tục tống đạt, niêm yết: Do bị đơn bà L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu “tranh chấp quyền sử dụng đất” của nguyên đơn:

6

Ông D khởi kiện yêu cầu bà L phải trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích 20 m² (chiều rộng 0,2 m, chiều dài 100,05 m) thuộc thửa đất số 1004, tờ bản đồ số 48 tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 535168, vào sổ số CS 06139/QSDĐ do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 17/11/2021 cho ông Lê Anh Trọng D. Tại buổi đo đạc giao tọa độ, xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/3/2024 cho thấy: Trụ bê tông ở điểm đầu (trụ bê tông mới do ông D làm) giáp đường đất (đường lô) là thuộc quyền sử dụng của bị đơn bà L nên nguyên đơn đồng ý dời hàng rào vào cách trụ bê tông mới này. Còn trụ bê tông (trụ bê tông cũ đã xanh rêu) nằm cuối thửa đất (giáp thửa đất số 33) là thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn ông D nên nguyên đơn đồng ý di dời hàng rào đúng vị trí trụ bê tông cũ này. Nguyên đơn và bị đơn thống nhất đồng ý di dời trụ hàng rào cho đúng vị trí trụ bê tông đã được đo giao tọa độ. Ngày 26/3/2024, nguyên đơn ông D có đơn cin rút yêu cầu về tranh chấp quyền sử dụng đất trên, việc rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, bị đơn bà L không có ý kiến nên Hội đồng xét xử đình chỉ, không tiếp tục xem xét giải quyết.

[2.2] Xét yêu cầu “bồi thường thiệt hại tài sản” của nguyên đơn:

Trong đơn khởi kiện, ông D yêu cầu bà L bồi thường cho ông D giá trị hàng rào ranh đất (gồm 08 trụ bê tông, dây kẽm gai, tiền công làm hàng rào) với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Tại bản trình bày ngày 08/4/2024, đại diện hợp pháp của bị đơn xin rút một phần yêu cầu, chỉ yêu cầu bà L bồi thường giá trị hàng rào ranh đất là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), gồm: Giá trị của 03 trụ bê tông trụ rào là: 100.000 đồng/trụ x 03 trụ = 300.000 đồng; giá trị dây kẽm gai làm hàng rào là: 200.000 đồng và tiền công làm hàng rào là 1.000.000 đồng.

Xét thấy, theo các hình ảnh mà nguyên đơn giao nộp và tại các biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp ngày 30/01/2024 và ngày 12/3/2024 thể hiện có một đoạn hàng rào, kết cấu 03 trụ bê tông và có giăng 03 dây kẽm gai dài 10 m bị đạp gãy, đổ xuống đất. Các chứng cứ này chứng minh việc xảy ra thiệt hại tài sản hàng rào như nguyên đơn trình bày là có thật. Mặc dù trong bản tự khai ngày 22/3/2024 bị đơn không đồng ý bồi thường, không thừa nhận là người phá, đạp đổ hàng rào nhưng tại biên bản hòa giải ngày 06/12/2023 tại UBND xã T, bị đơn thừa nhận là người nhổ, phá bỏ hàng rào do khi nguyên đơn làm hàng rào không thông báo cho gia đình bị đơn biết và rào lấn sang đất của bị đơn. Tuy nhiên, khi đo đạc giao tọa độ, xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/3/2024, cho thấy bị đơn cũng có lấn sang đất của nguyên đơn nên việc bị đơn phá hàng rào là không đúng. Theo biên bản định giá ngày 05/6/2024, hàng rào có kết cấu 03 trụ bê tông và có giăng 03 dây kẽm gai dài 10 m có giá trị là 360.000 đồng (ba trăm sáu mươi ngàn đồng). Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn đồng ý yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại giá trị hàng rào theo giá của Hội đồng định định giá là 360.000 đồng và yêu cầu bồi thường tiền công làm hàng rào là 1.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường tiền công làm hàng rào là chi phí hợp lý. Vì vậy, yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản của

7

nguyên đơn là có căn cứ và đúng với quy định tại các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 6 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn ông D.

[2.3] Xét yêu cầu “bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần” của nguyên đơn:

Kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/3/2024 cho thấy nguyên đơn và bị đơn đều có lấn sang đất của nhau, các bên đương sự đã thống nhất thỏa thuận tự làm lại hàng rào theo ranh đo giao tọa độ, nguyên đơn đã rút yêu cầu về tranh chấp quyền sử dụng đất. Hai bên đương sự đều có lỗi để xảy ra tranh chấp, nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường tổn thất về sức khỏe, tinh thần số tiền 25.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh là chưa phù hợp với quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[3] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp 2.000.000 đồng (hai triệu đồng); chi phí định giá 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng). Nguyên đơn, bị đơn mỗi bên phải chịu 1/2 chi phí tố tụng khác. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn phải nộp để trả lại nguyên đơn số tiền 1.350.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng).

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần của ông D không được chấp nhận nhưng thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 12, Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà L phải chịu án phí 300.000 đồng đối với yêu cầu “bồi thường thiệt hại tài sản” của nguyên đơn được chấp nhận. Bà L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 và Điều 12, 14, 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 nhưng do bị đơn không làm đơn yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 26, 28, 39, 42, 147, 177, 227, 228, 229, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

8

  • Các Điều 584, 585, 586, 588, 589, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điểm d Khoản 1 Điều 12, các Điều 14, 15, 24, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Anh Trọng D đối với bị đơn bà Phạm Thị L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần”:

1.1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 20 m² (chiều rộng 0,2 m, chiều dài 100,05 m) thuộc thửa đất số 1004, tờ bản đồ số 48 tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương của nguyên đơn ông Lê Anh Trọng D.

1.2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Anh Trọng D đối với bà Phạm Thị L về việc “yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản”.

Buộc bà Phạm Thị L có trách nhiệm thanh toán cho ông Lê Anh Trọng D số tiền 1.360.000.000 đồng (một triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

1.3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Anh Trọng D đối với bà Phạm Thị L về việc “yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần” với số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

2. Chi phí tố tụng khác: Bị đơn phải nộp số tiền 1.350.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) để trả lại cho nguyên đơn.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • Hoàn trả cho ông Lê Anh Trọng D số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) theo biên lai thu số 0002531 ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.
  • Bà Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo:

9

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/6/2024).

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Bình Dương;
  • VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • CC THADS huyện Dầu Tiếng;
  • Các đương sự;
  • Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Nguyễn Minh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần

  • Số bản án: 81/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Anh Trọng D tranh chấp với Phạm Thị L Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger