Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/HS-ST

Ngày: 27/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lâm – Giáo viên;
Ông Đinh Công Hiến – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà:

ông Vũ Văn Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2023/TLST – HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đinh Quang D, sinh năm 2004; Nơi sinh: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn N, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Quang T và bà Lê Thị T1; Vợ con chưa có;Tiền án, tiền sự: không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 12/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Đinh Nguyên M, sinh năm 2004; Nơi sinh: Xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: xóm Q, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Nguyên Q và bà Trần Thị N; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 12/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Phạm Quang T2, sinh năm 2004; Nơi sinh: T, T, Thái Bình; Nơi cư trú: thôn B, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tiến Đ và bà Phạm Thị N1; Vợ con chưa có; Tiền án, Tiền sự: không.

    Nhân thân: Ngày 08/02/2021, Công an xã G, huyện G xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 300.000 đồng, về hành vi “Đánh nhau”. Chấp hành xong quyết định ngày 22/02/2021.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 12/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Lê Nguyễn Xuân N2, sinh năm: 2004; Nơi sinh: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn N, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: làm tóc; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T3 và bà Nguyễn Thị H; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 12/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Trịnh Minh H1, sinh ngày 08/5/2005; Nơi sinh: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn B, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn T4 và bà Trịnh Thị H2; Vợ con chưa có;Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 12/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  6. Họ và tên: Trịnh Đức Q1, sinh ngày 14/ 02/ 2006; Nơi sinh: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn N, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn L(đã chết) và bà Phạm Thị D1; Vợ con chưa có;Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và giao cho người đại diện giám sát kể từ ngày 12/7/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo:

  • + Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Đức Q1: Bà Ninh Thị H3 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. (có mặt)

- Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo:

  • + Người đại diện cho bị cáo Trịnh Đình Q2: Bà Phạm Thị D1; Địa chỉ: Thôn N, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)

  • + Người đại diện cho bị cáo Trịnh Minh H1: Bà Trịnh Thị H2; Địa chỉ: thôn B, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Anh Tạ Quang Tuấn A; sinh ngày 25/5/2007; Người đại diện hợp pháp là bà Đinh Thị H4; Cùng nơi cư trú: Thôn N, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

  • - Anh Đinh Quang V, sinh ngày 29/4/2005; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

  • - Anh Lê Minh Đ1, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn B, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

  • - Anh Nguyễn Tòng V1, sinh ngày 11/12/2005; Nơi cư trú: Thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

  • - Anh Nguyễn Tiến M1, sinh ngày 01/5/2008; Người đại diện hợp pháp là bà Đỗ Thị P; Cùng nơi cư trú: Thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

  • - Anh Phạm Văn N3, sinh ngày 18/3/2006; Người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị M2; Cùng nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

  • - Anh Đỗ Thiện G, sinh ngày 28/01/2006; Người đại diện hợp pháp là ông Đỗ Thiện T5; Cùng nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

  • - Anh Trần Ngọc T6, sinh ngày 14/7/2006; Người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị P1; Cùng nơi cư trú: Thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

  • - Anh Nguyễn Việt A1, sinh ngày 22/5/2007; Người đại diện hợp pháp là bà Bùi Thị H5; Cùng nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

  • - Anh Hoàng Quốc B, sinh ngày 15/11/2006; Người đại diện hợp pháp là bà Cao Thị L1; Cùng nơi cư trú: Thôn V, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

- Người tham gia tố tụng khác:

  • + Người làm chứng: Anh Trần Tiến M3, sinh năm 1998. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Tòng V1 sinh năm 2005, anh Nguyễn Tiến M1 sinh năm 2008, anh Phạm Văn N3 sinh năm 2006, anh Đỗ Thiện G sinh năm 2006, anh Trần Ngọc T6 sinh năm 2006, anh Nguyễn Việt A1 sinh năm 2007, đều trú tại xã G, huyện G và anh Hoàng Quốc B sinh năm 2006, trú tại thôn V, xã G, huyện G (là bạn bè với nhau). Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 09/4/2023, anh Hoàng Quốc B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Namotor biển kiểm soát 35AN-073.07 chở anh Trần Ngọc T6, anh Đỗ Thiện G, anh Nguyễn Văn M4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave Honda biển kiểm soát 35N1-515.63 chở anh Phạm Văn N3, anh Nguyễn Việt A1 và anh Nguyễn Tòng V1 đi đến quán Internet HD của anh Trần Xuân Đ2, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã G để chơi game. Lúc này, Đinh Quang D đang ngồi chơi tại quán, khi nhìn thấy anh Nguyễn Việt A1, D nhận ra anh Việt A1 là người trước đó có mâu thuẫn với Đinh Quang V, sinh năm 2005, trú tại thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (là bạn bè của D). D sử dụng điện thoại di động 6S màu trắng chụp lại hình ảnh của anh Việt A1, đồng thời gửi hình ảnh và nhắn tin qua ứng dụng messenger cho V, ý nói cho V biết anh Việt A1 đang chơi game ở đây. Lúc này, T2V đang ngồi chơi tại nhà của Lê Minh Đ1, sinh năm 2004, trú tại thôn B, xã G, huyện G cùng với Trịnh Minh H1. V nói chuyện về việc, D nhìn thấy anh Việt A1 đang chơi game tại quán nét HD. Sau đó, V, T2, Đ1H1 đi đến quán B1-a của anh Đinh Nguyên T7, sinh năm 1985, trú tại thôn L, xã G, huyện G để chơi bi a, trên đường đi đến quán B1, H1 nhặt được 01 đoạn cần câu ở rìa đường mang theo. Lúc này, D đi bộ từ quán nét về quán B1, thấy Đinh Nguyên MTạ Quang Tuấn A, sinh ngày 25/5/2007, trú tại thôn N, xã G, huyện G (là người trông coi quán bi a), đang ngồi uống nước ở quán, D nói: “Đi đánh nhau không”, D rủ MTuấn A tham gia đánh nhau. M đồng ý, khi nghe thấy D rủ M, Tuấn A đi đánh nhau, thì T2, H1, V, Đ1 đồng ý. Tại quán Trịnh Đức Q1 cũng đang chơi bi a, nghe thấy D, V, T2, H1, Đ1 (đều là bạn bè của Q1) nói chuyện về việc đi đánh anh Tuấn A, nên Q1 cũng tự tham gia. Tạ Quang Tuấn A đi vào góc quầy thanh toán của quán, lấy 03 đoạn tuýp sắt (hình trụ tròn đường kính 2,7cm, dài khoảng 1m) đưa cho T2 cầm 01 tuýp sắt, đưa cho Q1, D mỗi người cầm một chiếc tuýp sắt, M tự lấy 01 chiếc tuýp sắt ở quán bi a, H1 01 đoạn cần câu, Đ1 không cầm theo đồ vật gì. Vinh lúc này ở lại quán B1 để chơi; T2, D, H1, Đ1 đi bộ đến đầu cầu bên phải trước cửa quán I đứng chờ nhóm của anh Việt A1 để đánh; M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, gắn bển kiểm soát 35C1-000.88 chở Q1 đi đến đầu cầu bên trái trước của quán I chặn đánh anh Việt A1. Trong quá trình chờ nhóm của anh Nguyễn Việt A1, do chờ lâu nên V không tham gia nữa mà đi từ quán bi a về nhà ngủ. Đ1H1 đi về quán bi a để hút thuốc, thì gặp Lê Nguyễn Xuân N2 đang chơi bi a, N2 nhìn ra phía quán nét HD thấy đông người, nên hỏi Đ1 “Sao đông người ở kia vậy”, Đ1 nói “Chúng nó đánh nhau anh ạ”. Thấy vậy, N2 nhặt 01 đoạn đầu gậy bi a ở trong quán, rồi đi bộ về phía khu vực quán I, đứng chờ cùng với D, T2. Sau đó, Đ1H1 đi bộ từ quán bi a đến chỗ D, T2, Nam đang đứng. Khoảng 5 phút sau, do trời đã muộn nên Đ1 không tham gia nữa mà đi về nhà ngủ.

Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 10/4/2023, sau khi chơi game xong, anh Nguyễn Văn M4 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35N1-515.63 chở anh Phạm Văn N3, anh Nguyễn Việt A1 và anh Nguyễn Tòng V1; anh Hoàng Quốc B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35AN-073.07 chở anh Trần Ngọc T6, Đỗ Thiện G đi từ quán I về nhà. Khi đi đến đầu cầu phía bên phải cách cửa quán nét HD khoảng 10m, xe mô tô do anh M4 điều khiển rẽ ra đường D hướng thị trấn M, thấy vậy M điều khiển xe mô tô chở Q1 cầm tuýp sắt đuổi theo, còn xe mô tô do anh B điều khiển phía sau bị D, T2, N2, H1 cầm gậy chặn lại, H1 cầm đoạn cần câu vụt 01 nhát trúng bắp tay phải của anh B, làm anh B mất lái, xe mô tô bị đổ ra đường, T2 cầm tuýp sắt ném về phía xe của anh B (nhưng không trúng ai) làm tuýp sắt bị kẹt vào đuôi xe. Thấy bị đánh, anh B, anh G dựng xe mô tô tiếp tục bỏ chạy sang đường bên hông ủy ban nhân dân xã G về hướng xã G. Khi về đến cầu đền Đ3 thuộc địa phận xã G, B cầm tuýp sắt kẹt ở xe ném xuống mương nước dưới cầu. Lúc này, anh T6 bỏ chạy về phía quán I bị D, T2, N2 đuổi theo, N2 dùng đoạn gậy bi a vụt 01 nhát trúng vào đầu của anh T6, anh T6 nhảy xuống mương nước bỏ chạy, thì bị T2, D đuổi theo. T2 hỏi anh T6: “Mày có phải Việt A1 không”, anh T6 trả lời: “em người Hòa Bình”, nên T2 cho anh T6 đi về. Sau đó, Nam chạy về quán bi a lấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius biển kiểm soát 35H2-4729 của mình, điều khiển chở T2, H1 rú ga, hò hét đuổi theo tìm đánh anh Việt A1.

Khi thấy xe mô tô của anh B bị chặn đánh, anh M4 điều khiển xe mô tô chở anh Việt A1, V1N3 bỏ chạy về phía thị trấn M. Thấy vậy, M điều khiển xe mô tô chở Q1 cầm theo 01 đoạn tuýp sắt, rú ga, hò hét đuổi theo xe mô tô của anh M4, được khoảng 100m thì đuổi kịp, ép vào bên trái xe mô tô của anh M4. Q1 cầm tuýp sắt vụt 01 nhát trúng vào lưng anh N3 và vụt 01 nhát trúng vào đuôi xe mô tô, sau đó tiếp tục ép xe và giơ tuýp sắt vụt về phía xe mô tô của anh M4, anh M4 nghiêng người để né tránh, nên mất lái, đi vào bờ cỏ, sau đó xe mô tô xô vào cột điện ven đường, làm anh V1 bị thương xây xát da vùng hông phải, đau vùng hạ sườn thượng vị bên phải, anh M4 bị xây xát da, anh N3 bị thương ngón tay, anh Việt A1 bị xây xát vùng trán trái. Thấy xe mô tô của anh M4 bị đổ ở ria đường, M chở Q1 quay lại khu vực cửa quán I gặp D, nên M chở DQ1 đi về phía xã G tiếp tục tìm Việt A1 để đánh nhưng không tìm thấy ai, nên M điều khiển xe mô tô quay lại vị trí xe mô tô của anh M4 bị đổ. Thấy anh V1 đang nằm ngửa, 2 tay ôm bụng, M xuống xe lấy tuýp sắt mà Q1 đang cầm, vụt 01 nhát vào chân trái của anh V1, lúc này anh V1 kêu đau, nên M bế anh V1 lên xe mô tô, để Q1 điều khiển xe chở N2 và anh V1 về bãi đất trống phía sau phòng khám T8 tại thôn L, xã G. Lúc này, N2 điều khiển xe sirius chở H1, T2 đi đến đuổi theo anh N3, anh M4, anh Việt A1; T2N2 cầm đá ném anh N3 và anh M4 nhưng không trúng. Anh N3 và anh Việt A1 bỏ chạy vào nhà dân trốn được, còn anh M4 do bị N2 cầm đá dọa ném nên đi lên bờ. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô chở T2, anh M4 về bãi đất trống phía sau phòng khám T8.

Tại bãi đất trống, phía sau phòng khám T8. Khi anh V1 đang ngồi trên xe mô tô, thì bị N2 tát 01 nhát vào má trái, H1 tát 01 nhát vào má phải, do anh V1 kêu đau bụng, nên anh M4 dìu V1 ngồi xuống đất. Lúc này, M dắt xe của anh V1 đi đến, M cầm 01 đoạn tuýp sắt đập 01 nhát vào đầu xe mô tô của anh V1, sau đó được H1 can ngăn nên M không đập nữa. Khoảng 01 giờ 00 phút cùng ngày, T2, H1, M dìu anh V1 lên xe mô tô, để anh M4 điều khiển xe chở anh V1 về nhà. Sau đó, cả nhóm quay lại quán bi a để cất giấu hung khí, rồi đi về nhà.

Sau khi anh V1 được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh N, ông Phạm Văn C, sinh năm 1976, trú tại thôn X, xã G, huyện G (là chú của anh V1) đã đến Công an xã G sự việc, đề nghị giải quyết. Công an huyện G đã phối hợp công an xã G tiến hành lập biên bản ghi nhận lại nội dung vụ việc trên.

Hậu quả: Anh Nguyễn Tòng V1 đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh N từ ngày 10/4/2023 đến ngày 25/4/2023, thì ra viện; Anh Nguyễn Tiến M1 bị xây sát vùng trán, sưng nề cẳng chân phải, xây sát điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh N từ ngày 10/4/2023 đến ngày 11/4/2023, thì ra viện; Anh Phạm Văn N3 gãy 02 đốt ngón tay của bàn tay phải, vùng lưng phải có vết hằn bầm tụ máu kích thước (2,1x15)cm; Anh Đỗ Thiện G bị sưng nề vùng mắt phải và cẳng chân phải; Anh Trần Ngọc T6 sưng nề, bầm tụ máu cẳng tay phải có kích thước (13x5)cm, hông phải có vết sạt xước kích thước (1x2,5)cm, đỉnh chẩm phía sau đầu có vết sưng tụ máu kích thước (3x3)cm, mặt trong bàn chân phải có vết rách da kích thước (1x0,1)cm; Anh Nguyễn Việt A1 bị xây sát, sưng nề vùng mặt bên trái kích thước (10x6)cm, lòng bàn chân phải có vết rách da đã được khâu, miệng vết thương khô, mặt trước cẳng chân phải có vết sạt xước kích thước (12x5)cm; Anh Hoàng Quốc B bị bầm tụ máu kích thước (3x3)cm tại vùng bắp tay phải. Thương tích của anh Việt A1, anh N3, anh B, anh G và anh T6 đều không phải đi viện điều trị.

Ngày 30/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể số 45, để giám định mức độ tổn hại phần trăm sức khỏe đối với anh Nguyễn Tiến M1. Tuy nhiên, anh M1 kiên quyết từ chối việc giám định.

Ngày 16/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể số 55, để giám định mức độ tổn hại phần trăm sức khỏe đối với anh Nguyễn Tòng V1. Tuy nhiên, anh V1 kiên quyết từ chối việc giám định.

Đối với thương tích của các anh Phạm Văn N3; Nguyễn Việt A1; Hoàng Quốc B; Trần Ngọc T6, Nguyễn Thiện G1. Sau khi sự việc xảy ra, các anh N3, Việt A1, BT6 chỉ bị chấn thương phần mềm, xây sát nhẹ không phải đi điều trị tại cơ sở y tế, đồng thời những người này đã có đơn từ chối việc giám định tổn hại phần trăm sức khỏe.

Vật chứng thu giữ:

  • - Thu giữ tại hiện trường: 05 chiếc dép (gồm: 02 chiếc dép nhựa màu đen kẻ sọc trắng và màu trắng, 02 chiếc dép nhựa màu đen, 01 chiếc dép nhựa màu nâu), 01 đoạn cần câu bị gãy, 03 mảnh nhựa màu đen xe mô tô bị vỡ (mảnh lớn nhất kích thước 35x10cm, mảnh nhỏ nhất kích thước 5x4cm)..

  • - Tạ Quang Tuấn A giao nộp 03 tuýp sắt (đều có hình trụ tròn, đường kính 2,1cm có chiều dài lần lượt là 100cm; 85,5cm; 75,5cm); Lê Nguyễn Xuân N2 giao nộp 01 đoạn gậy gỗ (dài 38cm, hình trụ tròn, một đầu đường kính 0,2cm, một đầu bị gãy vót nhọn), 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển kiểm soát 35H2 – 4729 (đã qua sử dụng); Đinh Nguyên M giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, gắn bển kiểm soát 35C1-000.88 (đã qua sử dụng); Anh Hoàng Quốc B giao nộp 01 xe mô tô, màu cam, không rõ nhãn hiệu, lốc máy nhấn chìm chữ “NAMOTOR”, biển kiểm soát 35AN – 073.07; Anh Nguyễn Tòng V1 giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave vỏ màu đen, BKS 35N1 – 515.63 (đã qua sử dụng) bị hư hỏng; Đinh Quang D giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng, bên trong không lắp sim, số máy: MN0XJ/A, số IMEI: 353798086471556 (đã qua sử dụng)..

  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành sao trích tệp tin video thu giữ tại Công an xã G và tại quán I, ghi lại diễn biến vụ việc, lưu trữ trong 2 thẻ nhớ, đồng thời trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh N giám định có bị cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh hay không.

Tại bản Kết luận giám định số 773/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 13/9/2023, của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 04 (bốn) tệp tin video lưu trữ trong 02 (hai) thẻ nhớ gửi giám định”.

Tại phiên tòa các bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M, Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 không có kiến nghị, ý kiến gì và đã khai, nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với thương tích của anh Nguyễn Tòng V1. Sau khi sự việc xảy ra, Đinh Quang D, Lê Nguyễn Xuân N2,Nguyễn Phạm Quang T2, Đinh Nguyên M, Trịnh Đức Q1Trịnh Minh H1 đã tác động đến gia đình, tự nguyện bồi thường cho anh V1, mỗi gia đình bồi thường số tiền là 12.500.000 đồng. Tổng số tiền mà gia đình D, N2, T2, M, Q1, H1 tự nguyện bồi thường là 75.000.000 đồng. Ông Nguyễn Tòng P2 (bố đẻ của anh V1) đã nhận đủ số tiền, đồng thời không yêu cầu các bị can phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác.

Đối với thương tích của anh Nguyễn Tiến M1 và anh Phạm Văn N3, gia đình các bị can D, N2, T2, M, Q1H1 đã thống nhất, tự nguyện bồi thường sức khỏe cho anh M1 5.000.000 đồng và bồi thường cho anh N3 5.000.000 đồng. Anh M1 và anh N3 đã nhận đủ số tiền, đồng thời không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho mình bất cứ khoản tiền nào khác.

Đối với thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha vỏ màu đen, biển kiểm soát 35N1 – 515.63.Quá trình điều tra xác định, gia đình Đinh Nguyên MTrịnh Đức Q1 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại của xe mô tô, mỗi gia đình số tiền là 755.000 đồng. Ông P2 đã nhận đủ số tiền 1.510.000 đồng, đồng thời không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác.

Đối với thương tích của các anh Nguyễn Việt A1, Hoàng Quốc B, Trần Ngọc T6, Nguyễn Thiện G1 đều thấy thương tích của mình không lớn, nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào cho mình.

Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKS-GV, ngày 07/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử các bị cáo Đinh Quang D,Đinh Nguyên M,Nguyễn Phạm Quang T2,Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M.Nguyễn Phạm Quang T2,Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 như nội dung bản Cáo trạng.

Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò của các bị cáo trong vụ án đồng phạm, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M,Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng

- Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M, Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2.

Xử phạt bị cáo Đinh Quang D từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Xử phạt bị cáo Đinh Nguyên M từ 27 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Quang T2 từ 24 đến 27 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Xuân N2 từ 24 đến 54 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

- Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trịnh Minh H1, Trịnh Đức Q1;

Xử phạt bị cáo Trịnh Minh H1 từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Xử phạt bị cáo Trịnh Đức Q1 từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Giao các bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M, Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 cho Ủy ban nhân dân xã G nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 05 chiếc dép (gồm: 02 chiếc dép nhựa màu đen kẻ sọc trắng và màu trắng, 02 chiếc dép nhựa màu đen, 01 chiếc dép nhựa màu nâu); 01 đoạn cần câu bị gãy; 03 mảnh nhựa màu đen bị vỡ; 03 tuýp sắt; 01 đoạn gậy gỗ.

Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng (đã qua sử dụng) thu giữ của Đinh Quang D

Đề nghị trả lại 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, gắn biển kiểm soát 35C1-000.88 cho bị cáo Đinh Nguyên M.

Tại phiên tòa bà Ninh Thị H3 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N bào chữa cho bị cáo Trịnh Đức Q1 trình bày quan điểm bào chữa, công nhận việc điều tra, truy tố và xét xử cũng như các căn cứ pháp luật áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng; căn cứ quy định pháp luật, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo và áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên cho bị cáo.

Người đại diện và bị cáo Trịnh Đức Q1 đồng ý với quan điểm bảo chữa của người bào chữa, không bổ sung ý kiến gì khác. Các bị cáo và người đại diện có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận, không trình bày, đề nghị thêm nội dung nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện vắng mặt tại phiên tòa, không có đề nghị, yêu cầu gì đối với các bị cáo.

Các bị cáo khác không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng các bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện, tỏ ra ăn năn hối cải và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh, khung hình phạt:

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác, đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 00 giờ 15 phút đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 10/4/2023, tại khu vực đường D thuộc địa phận xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình là khu công cộng đông dân cư, đông phương tiện qua lại, Đinh Quang D, Đinh Nguyên M, Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 đã có hành vi hò hét, chửi bới, sử dụng tuýp sắt, đoạn gậy gỗ, cần câu, gạch đá (là hung khí), sử dụng xe mô tô để đuổi đánh nhau trên đường, làm nhiều người bị thương. Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo sợ, bức xúc trong quần chúng nhân dân.

Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

Hành vi của các bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M,Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 đã đủ yếu tố cấu thành tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự

Việc các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho đã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn ở nơi công cộng, xâm hại đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo hộ, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội, gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Cách thức thực hiện hành vi phạm tội liều lĩnh, coi thường pháp luật. Vì vậy cần có một mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân và vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M, Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1đều thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho người liên quan; người liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M,,Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 có nhân thân tốt. Bị cáo Nguyễn Phạm Quang T2 năm 2021 bị xử phạt hành chính khi chưa đủ 18 tuổi.

Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo nhất thời phạm tội, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể. Các bị cáo tham gia với vai trò, mức độ khác nhau nên cần đánh giá toàn diện khi giải quyết.

- Đối với bị cáo Đinh Quang D: Bị cáo là người giữ vai trò chính, tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất

- Bị cáo Đinh Nguyên M là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội hơn các bị cáo khác nên giữ vai trò thứ hai sau bị cáo D

- Các bị cáo Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1, Trịnh Đức Q1 đều tích cực thực hiện hành vi phạm tội và có vai trò ngang nhau trong vụ án.

Tại thời điểm phạm tội bị cáo Trịnh Minh H1 và bị cáo Trịnh Đức Q1 đều dưới 18 tuổi do vậy cần áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đối với hai bị cáo.

Đánh giá toàn diện vụ án, căn cứ hành vi phạm tội của các bị cáo, căn cứ nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, tương xứng với tính chất mức độ và vai trò của mỗi bị cáo; tuy nhiên các bị cáo đều không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, giáo dục cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ răn đe và giáo dục cải tạo các bị cáo thành công dân tốt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: không có ai yêu cầu gì về trách nhiệm bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 05 chiếc dép (gồm: 02 chiếc dép nhựa màu đen kẻ sọc trắng và màu trắng, 02 chiếc dép nhựa màu đen, 01 chiếc dép nhựa màu nâu) thu giữ tại hiện trường. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của các anh N3, M1, B. Tuy nhiên, cả N3, M1B đều không yêu cầu nhận lại, tài sản không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 đoạn cần câu bị gãy thu giữ tại hiện trường, 03 tuýp sắt thu giữ của Tạ Quang Tuấn A, 01 đoạn gậy gỗ thu giữ của Lê Nguyễn Xuân N2 là công cụ các bị cáo sử dụng để phạm tội, là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 03 mảnh nhựa màu đen bị vỡ (mảnh lớn nhất kích thước 35x10cm, mảnh nhỏ nhất kích thước 5x4cm) thu giữ tại hiện trường. Quá trình điều tra xác định là mảnh nhựa vỡ của xe mô tô Honda Wave của ông Nguyễn Tòng P2. Ông P2 không yêu cầu nhận lại, tài sản không còn giá trị sử dụng. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng, bên trong không lắp sim, số máy: MN0XJ/A, số IMEI: 353798086471556 (đã qua sử dụng) thu giữ của Đinh Quang D. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của D, sử dụng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, gắn biển kiểm soát 35C1-000.88 (đã qua sử dụng) thu giữ của Đinh Nguyên M. Quá trình điều tra xác định tài sản có nguồn gốc do bố mẹ của M bỏ tiền mua để làm phương tiện đi làm, sau đó M sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, việc M sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện tham gia đánh nhau, bố mẹ M không biết do vậy cần trả lại cho bị cáo Đinh Nguyên M.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu xanh, không gắn biển kiểm soát (đã qua sử dụng), 01 biển kiểm soát xe mô tô, 01 đăng ký xe mô tô 35H2 – 4729 thu giữ của Lê Nguyễn Xuân N2. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô trên, là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H (là mẹ đẻ của N2), việc N2 tự ý lấy xe sử dụng làm phương tiện tham gia đánh nhau, bà H không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe mô tô trên cho bà H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 xe mô tô, màu cam, không rõ nhãn hiệu, lốc máy nhấn chìm chữ “NAMOTOR”, biển kiểm soát 35AN – 073.07 thu giữ của anh Hoàng Quốc B. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Quang H6 (là bạn bè với anh B). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe mô tô trên cho anh H6 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave vỏ màu đen, biển kiểm soát 35N1 – 515.63 (đã qua sử dụng) thu giữ của anh Nguyễn Tòng V1. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Tòng P2, sinh năm 1974, trú tại thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (là bố đẻ của anh V1). Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe mô tô trên cho ông P2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 đoạn tuýp sắt mà Nguyễn Phạm Quang T2 ném bị kẹt vào đuôi xe mô tô do anh B điều khiển chở anh G1 ngồi phía sau. Khi anh B chở G1 bỏ chạy được về khu vực Cầu Đ thuộc địa phận xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Anh G1 đã rút đoạn tuýp sắt và ném xuống mương nước gần đó. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Đối với Tạ Quang Tuấn A, sinh ngày 10/4/2007 (là người trông coi quán B1). Khi T2, Q1, M, D vào quán bi a nói chuyện về việc đánh Việt A1, Tuấn A đã lấy 03 đoạn ống sắt đường kính 2,7cm, dài khoảng 1m đưa cho T2, Q1, D. Hành vi của Tạ Quang Tuấn A có dấu hiệu đồng phạm, về tội “Gây rối trật tự công cộng” – quy định tại Điều 318 BLHS. Tuy nhiên, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, Tuấn A chưa đủ 16 tuổi (15 tuổi 10 tháng 15 ngày). Vì vậy, Tuấn A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Đinh Quang V, khi Đinh Quang Dnhắn tin về việc Việt A1 là người đánh mình trước đây đang chơi game ở quán nét ở xã G, V đã kể lại cho Đ1, T2, H1 biết. Tuy nhiên, V không rủ rê, khởi sướng việc đi đánh anh Việt A1, không tham gia vào quá trình trình xô xát, đánh nhau, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Lê Minh Đ1, quá trình chơi tại quán B1, khi thấy D, T2, V, H1 nói chuyện về việc đánh anh Việt A1, Đ1 nghe thấy và đồng ý. Tuy nhiên, Đ1 chỉ ra ngoài khu vực gần quán nét HD đứng chờ. Trong suốt quá trình xảy ra sự việc, Đ1 không rủ rê, khởi sướng việc đi đánh anh Việt A1, không tham gia vào quá trình trình xô xát, đánh nhau, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quan điểm xử lý của Hội đồng xét xử.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người đại diện và người bào chữa của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M, Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2;

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trịnh Minh H1, Trịnh Đức Q1;

  • - Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;

  • - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

1. Tuyên bố: các bị cáoĐinh Quang D, Đinh Nguyên M, Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".

Xử phạt bị cáo Đinh Quang D 30 (ba mươi)tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Xử phạt bị cáo Đinh Nguyên M 27 (hai mươi bẩy)tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Quang T2 24 (hai mươi tư)tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Xuân N2 24 (hai mươi tư)tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Xử phạt bị cáo Trịnh Minh H1 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Xử phạt bị cáo Trịnh Đức Q1 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/12/2023.

Giao các bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M, Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng

Tịch thu, tiêu hủy 05 chiếc dép (gồm: 02 chiếc dép nhựa màu đen kẻ sọc trắng và màu trắng, 02 chiếc dép nhựa màu đen, 01 chiếc dép nhựa màu nâu); 01 đoạn cần câu bị gãy; 03 mảnh nhựa màu đen bị vỡ; 03 tuýp sắt; 01 đoạn gậy gỗ;

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng (đã qua sử dụng);

Trả lại 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, gắn biển kiểm soát 35C1-000.88 cho bị cáo Đinh Nguyên M.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn ngày 10/11/2023).

3. Án phí.

các bị cáo Đinh Quang D, Đinh Nguyên M,Nguyễn Phạm Quang T2, Lê Nguyễn Xuân N2, Trịnh Minh H1Trịnh Đức Q1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người bào chữa, người đại diện cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 27/12/2023. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh NB
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - Công an huyện Gia Viễn;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng;
  • (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lã Hoàng Giáp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 81/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: D và đồng phạm - Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger