Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2023/HS-ST

Ngày: 27-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Nguyễn Minh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Liêm
  2. Bà Lê Thị Phương Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Duẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương và trụ sở cơ sở giam giữ Công an huyện D, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng xét xử sơ thẩm công khai (hình thức xét xử trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn H, sinh năm 1987, tại Bình Dương. Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1962 và bà Lê Thị T, sinh năm 1966; bị cáo có vợ tên Đặng Thị Minh T1, sinh năm 1990 và 01 con sinh năm 2015;

Tiền án:

  • Ngày 04/7/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên phạt 01 năm tù 06 tháng tù về tội Đánh bạc theo Bản án số 60/2018/HSPT (chưa được xóa án tích).
  • Ngày 22/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tuyên phạt 01 năm tù 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 126/2020/HSST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/2021, được trả tự do chưa xóa án tích).

Tiền sự: Ngày 27/02/2023, bị Công an xã M xử phạt 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 01/6/2023.

Nhân thân:

  • Ngày 20/12/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 08 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, theo Bản án số 08/2004/HSST (chấp hành xong án phí ngày 06/7/2005, đã xóa án tích).
  • Ngày 17/9/2007, bị Ủy ban nhân dân tỉnh B ra Quyết định số 4128/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục P-P-P với thời hạn 24 tháng về hành vi Gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/6/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  • * Bị hại: Ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Đặng Thị Minh T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  • * Người làm chứng: Ông Sơn K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn H, là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015. Ngày 07/12/2021, H chấp hành xong án phạt tù về tội Trộm cắp tài sản tại Trại giam X trở về địa phương. Tuy nhiên, H tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ, cụ thể như sau:

Vụ trộm cắp tài sản:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 21/02/2023, Lê Văn H, điều khiển xe mô tô biển số 61H1 – 297.81 chở theo 01 cái cúp đào đất bằng kim loại, cán dài khoảng 102,5cm, lưỡi dài khoảng 19cm, bản rộng khoảng 09cm; 01 cái cưa xếp có chiều dài khoảng 40cm, cán bằng nhựa dài khoảng 16cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 18cm, khớp nối bằng kim loại dài khoảng 06cm; 01 cái kéo cắt tỉa cây dài khoảng 21,5cm, cán bằng nhựa màu đỏ dài khoảng 16,5cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 05cm để đi đào trộm cây M. Khi đi đến thửa đất tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương do Nguyễn Trường G làm chủ, thấy không có ai trông coi nên H đã lén lút vào đào trộm cây M tại đây. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, H đào xong cây M và để lên yên sau xe mô tô để chở đi, khi đang chở đi thì bị Sơn K (là người được G thuê trông coi, chăm sóc vườn) phát hiện nên K điều khiển xe mô tô đuổi theo. Khi đuổi kịp H thì K quẹt xe đụng vào cây M và bị té xe còn H tiếp tục điều khiển xe mô tô chở theo cây M bỏ chạy, đi được 01 đoạn, do sợ bị phát hiện nên H đã vứt bỏ cây M rồi tẩu thoát.

Ngày 21/02/2023, Sơn K đến Công an xã M để trình báo sự việc, quá trình xác minh ban đầu công an xã M đã xác định Lê Văn H là đối tượng nghi vấn nên đã mời đến Công an xã M làm việc. Tại Công an xã M thì H đã thừa nhận hành vi trộm cắp cây M tại vườn cây của ông G.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐG ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận 01 cây mai vàng đang sống đã được cắt tỉa lá có chiều cao 02m, chiều rộng tán cây 1,5m, chu vi gốc cây 66cm ngày 21/02/2023 có giá trị 8.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, ngày 21/02/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện D đã lập biên bản giao trả cây mai cho Sơn K là người quản lý chăm sóc vườn để bảo quản. Bị hại Nguyễn Trường G đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Lê Văn H bồi thường thiệt hại.

Vụ tàng trữ trái phép chất ma túy:

Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 30/5/2023, Lê Văn H trên đường đi về nhà tại ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương thì gặp T2 (Không rõ nhân thân, lai lịch) là bạn quen biết chạy ngược chiều, nên H quay xe lại chạy theo T2 hỏi T2 còn ma túy đá không bán cho H 1.000.000 đồng. T2 đồng ý và hẹn H 01 tiếng sau ra khu vục nghĩa trang làng A thuộc xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương đê giao ma túy. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, H đến địa điểm hẹn đứng chờ khoảng 15 phút, thì T2 chạy tới đưa ma túy cho H, còn H đưa cho T2 số tiền là 1.000.000 đồng. Ma túy được bỏ trong 01 túi nylong miệng kéo dính. Sau khi mua ma túy, H lấy ra sử dụng 02 lần, số ma túy còn lại H cất giấu để sử dụng dần. Đến khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 01/6/2023, H đi sửa xe mô tô, khi đi đến đoạn đường thuộc ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương thì bị Cơ quan C phát hiện bắt quả tang H đang mang theo số ma túy còn lại được bỏ trong bao thuốc lá hiệu HERO trong túi quần bên phải đang mặc. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nylon miện kéo dính, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô hiệu HONDA, màu đen, biển số Không rõ, số máy: Không rõ, số khung: RRSWCH7RS61, đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 297/KL-KTHS (MT) ngày 06/6/2023, của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy có khối lượng/trọng lượng 0,9433 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKSDT ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 và tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như sau:

Về tội danh: Truy tố bị cáo Lê Văn H ra trước Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 và tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội

đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản” và từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 07 (bảy) năm đến 09 (chín) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cái cúp đào đất bằng kim loại, cán dài khoảng 102,5cm, lưỡi dài khoảng 19cm, bản rộng khoảng 09cm; 01 cái cưa xếp có chiều dài khoảng 40cm, cán bằng nhựa dài khoảng 16cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 18cm, khớp nối bằng kim loại dài khoảng 06cm; 01 cái kéo cắt tỉa cây dài khoảng 21,5cm, cán bằng nhựa màu đỏ dài khoảng 16,5cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 05cm. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Lê Văn H sở hữu và sử dụng làm công cụ thực hiện tội phạm. Nên đề nghị tịch thu tiêu hủy

Đối với 01 bì thư được niêm phong ghi số 297/PC09 chứa ma túy còn lại sau giám định là 0,7853 gam ma túy Methamphetamine. Đây là chất cấm lưu hành nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô hiệu HONDA, màu đen không gắn biển số không có số máy: Không rõ, số khung: RRSWCH7RS61, Lê Văn H sử dụng đi mua ma túy về sử dụng. Quá trình điều tra do không có thông tin để xác định chủ sở hữu nên ngày 06/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D ban hành công văn 221/CSĐT-CSKTMT gửi Tòa soạn báo Công lý truy tìm chủ sở hữu chiếc xe nói trên nhưng không ai đến nhận lại. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho Ủy ban nhân dân huyện D xem xét, xử lý theo quy định.

Đối với xe mô tô, biển số 61H1-297.81, nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn: Đỏ-đen, dung tích xi lanh: 109cm³, loại xe hai bánh, số khung: LLHJA3625EY103189, số máy: JA36E0161181 tạm giữ . Quá trình điều tra xác định đây là xe do Đặng Thị Minh T1 (vợ của H) đứng tên chủ sở hữu hợp pháp, T1 khai nhận mua chiếc xe này vào năm 2021 làm phương tiện đi lại, hàng ngày của gia đình. Đây là tài sản chung của Lê Văn H và bà T1. Lê Văn H sử dụng làm phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với người đàn ông tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho Lê Văn H. Do không có đủ thông tin và cở sở để xác minh làm rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tiếp tục điều tra, làm rõ. Khi nào có căn cứ thì xử lý sau.

Ý kiến tranh luận của bà Đặng Thị Minh T1: Xe mô tô biển số 61H1-297.81 là tài sản do bà T1 mua riêng, không liên quan đến Lê Văn H nên bà T1 không đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe mô tô biển số 61H1-297.81.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện cải tạo thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ có trong hồ sơ đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể:

Vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 21/02/2023, tại nhà ông Nguyễn Trường G thuộc ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 01 cây mai kiểng trị giá 8.000.000 đồng của bị hại G thì bị phát hiện.

Vào lúc 12 giờ 00 phút, ngày 01/6/2023, tại đoạn đường thuộc ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D phối hợp Công an xã M đã bắt quả tang bị cáo có hành vi cất giấu trái phép 0,9433 gam ma túy loại Methamphetamine đựng trong 01 túi nylon miệng kéo dính được cất giấu bên trong bao thuốc lá hiệu HERO nằm trong túi quần bên phải của bị cáo.

Bị cáo là người bị áp dụng tình tiết tái phạm trong Bản án trước, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Như vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại và tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ma tuý đã và đang gây tác hại xấu cho sức khoẻ của người sử dụng; làm ảnh hưởng đến nòi giống, làm suy kiệt về kinh tế, ma tuý là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác và làm lan truyền nhiều loại bệnh nguy hiểm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng và trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích cá nhân, bị cáo vẫn bất chấp hậu quả thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

[4] Xét hành vi, mức độ phạm tội mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm về ma túy cũng như tội phạm về xâm phạm sở hữu trên địa bàn huyện D. Cần phải xử lý nghiêm hành vi của bị cáo bằng mức án tương xứng với tính

chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố đến tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2015. Gia đình bị cáo thuộc diện hoàn cảnh khó khăn được hưởng trợ cấp hộ nghèo tại địa phương.

[8] Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Bị cáo phạm tội bị áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm thể hiện thái độ xem thường pháp luật, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để bị cáo có điều kiện được giáo dục, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời tạo điều kiện để bị cáo cai nghiện ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Xử lý về vật chứng: Chất ma túy còn lại sau giám định M = 0,7853gam là chất cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô hiệu HONDA, màu đen không gắn biển số không có số máy: Không rõ, số khung: RRSWCH7RS61, bị cáo sử dụng đi mua ma túy về sử dụng. Quá trình điều tra do không có thông tin để xác định chủ sở hữu nên ngày 06/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D ban hành công văn 221/CSĐT-CSKTMT gửi Tòa soạn báo Công lý truy tìm chủ sở hữu chiếc xe nói trên nhưng đến nay vẫn không ai đến nhận lại. Đây là phương tiện bị cáo thực hiện tội phạm, không rõ nguồn gốc, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 cái cúp; 01 cái cưa xếp; 01 cái kéo cắt tỉa cây. Đây là công cụ bị cáo dùng thực hiện tội phạm nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô, biển số 61H1-297.81, nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn: Đỏ-đen, dung tích xi lanh: 109cm³, loại xe hai bánh, số khung: LLHJA3625EY103189, số máy: JA36E0161181 tạm giữ. Quá trình điều tra xác định dây là xe do Đặng Thị Minh T1 (là vợ của H) mua vào năm 2021 và đứng tên chủ sở hữu hợp pháp. Bà T1 và bị cáo đăng ký kết hôn ngày 17/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Như vậy, xe mô tô, biển số 61H1-297.81 là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Việc bị cáo sử dụng mô tô, biển số 61H1-297.81 làm phương tiện thực hiện tội phạm bà T1 không nên chỉ tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước đối với phần tài sản của bị cáo trong khối tài sản chung.

[10] Các vấn đề khác có liên quan đến vụ án:

Đối với bị hại Nguyễn Trường G, quá trình điều tra ông G đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là cây mai kiểng, ông G không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với người đàn ông tên T2 không rõ nhân thân, lai lịch bán ma túy cho bị cáo. Do không đủ thông tin và cở sở để xác minh làm rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.

[11] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, điều khoản truy tố và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về phần xử lý vật chứng đối với xe mô tô biển số 61H1-297.81 và xe mô tô hiệu HONDA, màu đen không gắn biển số là chưa phù hợp nên hội đồng xét xử sẽ quyết định khác đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[12] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản"

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 buộc bị cáo Lê Văn H chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2023.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình;

Tịch thu tiêu hủy:

01 (một) cái cúp đào đất bằng kim loại, cán hình trụ dài khoảng 102,5cm, lưỡi dài khoảng 19 cm, bản rộng nhất khoảng 09cm;

01 (một) cái cưa xếp có chiều dài khoảng 40cm, cán bằng nhựa dài khoảng 16cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 18cm, khớp nối bằng kim loại dài khoảng 06cm;

01 (một) Cái kéo cắt tỉa cây dài khoảng 21,5cm, cán bằng nhựa màu đỏ dài khoảng 16,5cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 05 cm;

01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 297/PC09 (là mẫu vật giám định trong QĐTC giám định số 97/QĐ ngày 01/6/2023 của CQCSĐT - Công an huyện D, tỉnh Bình Dương). Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký của Lê Văn H (người chứng kiến); Nguyễn Ngọc D (cán bộ trả mẫu); Đặng Hải S (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS-Công an tỉnh B bên trong có khối lượng mẫu vật niêm phong 0,7853 gam ma túy Methamphetamine;

01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, số loại: Không rõ, màu sơn đen, biển số: Không rõ, số khung: RRSWCH7RS61, dung tích xi lanh: Không rõ, số máy: Không rõ, loại xe mô tô hai bánh đã qua sử dụng (tình trạng vật chứng tại thời điểm giao nhận: xe đã cũ, không gương chiếu hậu, không bửng, không đầu đèn, không baga, không ốp nhựa);

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước ½ giá trị xe mô tô, biển số 61H1-297.81, nhãn hiệu: HONDA, số loại BLADE, màu sơn: Đỏ-đen, dung tích xi lanh: 109cm³, loại xe hai bánh, số khung: LLHJA3625EY103189, số máy: JA36E0161181 (tình trạng vật chứng tại thời điểm giao nhận: xe đã cũ, không gương chiếu hậu bên phải).

Trả lại cho bà Đặng Thị Minh T1 ½ giá trị xe mô tô, biển số 61H1-297.81, nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu sơn: Đỏ-đen, dung tích xi lanh: 109cm³, loại xe hai bánh, số khung: LLHJA3625EY103189, số máy: JA36E0161181 (tình trạng vật chứng tại thời điểm giao nhận: xe đã cũ, không gương chiếu hậu bên phải).

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2023)

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 27/12/2023). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - CQ CSĐT Công an H. Dầu Tiếng;
  • - CCTHA H. Dầu Tiếng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Nguyễn Minh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 81/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê văn H bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger