TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 81/2023/HS-ST Ngày 25-12-2023 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Đặng Trình.
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Hoàng Thị Chính
- Ông Phạm Anh Tuấn – Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Văn Đẩu, quận Kiến An;
- - Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Cường - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2023/TLST- HS ngày 21/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 349/2023/QĐXXST-HS ngày 24/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 353/2023/QĐST-HS ngày 08/12/2023 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Yến L, sinh ngày 18/10/2006, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A Đường P, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn A và bà Vũ Thị Quỳnh T; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; bị C đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Đặng Thùy D, sinh ngày 29/8/2005, tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số A đường V, phường T, quận H, Hải Phòng; nơi cư trú: Số D đường C, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Mạnh H và bà Ngô Thị N; chưa có chồng, con; tiền án; tiền sự: Không; bị C đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Bùi Thị Hoàng H1, sinh ngày 31/7/2005, tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số A Đường Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức H2 và bà Khoa Thị P; chưa có chồng, có 01 con sinh ngày 02/02/2022; tiền án, tiền sự: Không; bị C đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh ngày 24/6/2005, tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số B Cầu Đ, phường C, Quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh H3 và bà Trần Thị Ả; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; bị C đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Yến L : Bà Lê Thị N1, sinh năm 1964, nơi cư trú: Số A đường P, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng (là bà nội bị cáo), có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Thùy D: Ông Đặng Kim T2, sinh năm 1954, nơi cư trú: Số D đường C, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng (là ông nội bị cáo), có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Thị Hoàng H1: Bà Khoa Thị P, sinh năm 1977, nơi cư trú: Số A Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng (là mẹ bị cáo), có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T1: Bà Trần Thị Á, sinh năm 1973, nơi cư trú: Số B Cầu Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng (là mẹ bị cáo), có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo:
- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Yến L và Nguyễn Thị Mỹ T1: Ông Trần Minh N2, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Đặng Thùy D và Bùi Thị Hoàng H1: Bà Đoàn Thị H4, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, có mặt.
- Bị hại: Chị Bùi Khánh L1, sinh ngày 16/01/2005, cư trú tại: Số D N, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng, vắng mặt khi xét xử, có mặt khi tuyên án;
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Bùi Mạnh H5, sinh năm 1978 và bà Lã Thị L2, sinh năm 979; cùng cư trú tại: Số D N, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Lã Viết N3, Luật sư Công ty L3, Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt khi xét xử, xin vắng mặt khi tuyên án.
- Người làm chứng: Anh Lê Văn S, anh Đặng Minh Q, anh Nguyễn Hoàng S1, chị Trần Thị Huyền T3 và người đại diện hợp pháp của chị Trần Thị Huyền T3, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Yến L nghi ngờ chị Bùi Khánh L1, có quan hệ tình cảm với người yêu của mình. Khoảng 20 giờ ngày 13/12/2022, Nguyễn Yến L nói với Trần Thị Huyền T3 đi xe đạp điện của T3 chở L sang nhà người yêu của L là anh Lê Văn S, ở số D đường B, phường L, quận K, Hải Phòng. Đến nơi, L thấy trong nhà có anh S, chị L1 và anh Nguyễn Hoàng S1. L và chị L1 đã cãi chửi nhau vì mâu thuẫn trên. Thấy thế, anh S và anh S1 bỏ đi ra ngoài. Do bức xúc với chị L1 nên L gọi điện thoại rủ D, H5 đến nhà anh S để cùng đánh chị L1. D, H5 đồng ý. Thời điểm L gọi điện thoại cho D thì D đang đi chơi cùng Nguyễn Thị Mỹ T1, L nói với D: “Con Khánh L1 nó đang ở nhà S, chị có sang đây đánh nó cùng em không?”, D hỏi lại: “Đang ở nhà Sáng à”, L nói: “Đúng rồi, chị sang đây nhanh lên”. Lúc này, T1 cũng biết được nội dung nói chuyện của L và D. Sau đó, D chở T1 đến nhà anh S. Một lúc sau thì L, T3, D, T1 và H5 tập trung trước cửa nhà anh S gọi chị L1 ra nói chuyện nhưng chị L1 không ra. Trong khi cả nhóm chờ trước cửa nhà anh S, D và L bảo T1 “Tý nữa T1 làm cameramen nhé”, T1 hiểu ý là lát nữa có xô xát thì T1 sẽ dùng điện thoại quay video lại, T1 đồng ý. Do sợ bị đánh nên chị L1 gọi điện nhờ anh Đặng Minh Q và chị N4 đến đón. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, anh S và anh S1 về mở cửa cho chị L1 đi ra ngoài. Sau đó, anh S và anh S1 dẫn nhóm của anh Q, chị L1, chị N4 và bạn của chị N4 đi về, còn nhóm của L, T3, D, T1 và H5 cũng đi theo sau. Khi đi đến khu vực chung cư Q thuộc phường L, quận K, Hải Phòng thì D và chị L1 xuống xe nói chuyện. Sau đó, D và chị L1 cãi nhau và dùng tay, chân đánh nhau. Thấy thế, T1 liền dùng điện thoại quay lại toàn bộ sự việc. Cùng lúc đó thì H5, L, T3 cũng lao vào dùng tay, chân đánh chị L1. Tiếp theo, L và H5 lấy mũ bảo hiểm của H5 để ở xe, đánh vào người chị L1. T3 dùng hai chân đạp vào mặt chị L1. D nhặt 01 cành cây vụt chị L1. H5 dùng tay tát vào mặt chị L1. Quá trình đánh nhau, anh S, anh S1 và anh Q nhiều lần vào can ngăn nhưng không được. Anh Q là người kéo D ra ngoài không cho D đánh chị L1 nữa. Bạn của L1 là người can ngăn H5, không cho H5 đánh L1. Khi chị L1 ngã xuống đường, D ngồi lên người chị L1 và nói với mọi người: “Chụp xin kiểu ảnh”. Lúc này, T1 nói: “Che mặt đi” (mục đích là để nếu ai xem ảnh sẽ không biết người trong ảnh là D). Sau đó, anh S, anh S1 và anh Q tiếp tục can ngăn lên nhóm của D, L, T3, T1 và H5 không đánh chị L1 nữa. T1 đã chuyển 03 video ghi lại cảnh đánh nhau cho D; chị N4 và bạn chị N4 chở chị L1 đi khám ở Bệnh viện V. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã tiến hành thu giữ 03 video ghi lại cảnh đánh nhau trên, do Đặng Thùy D giao nộp. Nhưng không thu giữ được hung khí là chiếc mũ bảo hiểm và cành cây sử dụng để đánh L1.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 31/2023/TgT ngày 27/01/2023 của Trung tâm P kết luận:
“Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do 02 vết xây xước da để lại sẹo nhỏ vùng gò má phải và má trái gây nên là: 3% và 3%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vỡ xoang hàm trái gây nên là: 8%. Các vùng xưng nề bầm tím và các vết xây xước da khác không để lại sẹo, không còn dấu vết nên không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Bùi Khánh L1 do các thương tích trên gây nên theo phương pháp cộng là: 13%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật tày có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên”.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 529/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
“03 tập tin video có phần mở rộng “MP4”, tổng dung lượng 69,3MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston đã qua sử dụng (Ký hiệu A) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh. Trích xuất 10 hình ảnh nghi liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh kèm theo” (Hình ảnh thể hiện các đối tượng sử dụng mũ bảo hiểm và cành cây đánh chị L1).
Bản Cáo trạng số 81/CT-VKSKA ngày 17/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An đã truy tố các bị cáo Nguyễn Yến L, Đặng Thùy D, Bùi Thị Hoàng H1 và Nguyễn Thị Mỹ T1 về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, với lời khai của bị hại, Kết luận giám định pháp y về thương tích, người làm chứng, hình ảnh dữ liệu Camera, kết quả khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Yến L, Đặng Thùy D, Bùi Thị Hoàng H1 và Nguyễn Thị Mỹ T1 có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, theo điều luật nêu trên.
Tại phiên tòa các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo Nguyễn Yến L, Đặng Thùy D, Nguyễn Thị Mỹ T1 mỗi bị cáo đã bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng. Gia đình bị cáo Bùi Thị Hoàng H1 đã bồi thường cho bị hại số tiền 13.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Thị Hoàng H1 nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T1 có bố là người có công nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 90; 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự; xử phạt các bị cáo Nguyễn Yến L và Đặng Thùy D từ 27 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng; xử phạt bị cáo Bùi Thị Hoàng H1 từ 24 tháng đến 27 tháng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T1 từ 21 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách từ 42 đến 48 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo: Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh. Tuy nhiên, đề nghị xem xét đánh giá về việc các bị cáo dung mũ bảo hiểm và cành cây gây thương tích cho bị hại thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, dẫn đến định khung hình phạt và bị phạt tù là quá nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện, hoàn cảnh, nguyên nhân phạm tội của các bị cáo. Đối với bị cáo T1 không trực tiếp tham gia đánh bị hại mà chỉ là người cầm điện thoại chụp ảnh, quay C1, tính chất nguy hiểm không cao. Đề nghị cho bị cáo T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị áp dụng triệt để các tình tiết giảm nhẹ và nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử dưới mức hình phạt thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo, riêng bị cáo T1 được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Các bị cáo, người đại diện của các bị cáo L, D, T1 mỗi bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 4.000.000 đồng, đại diện bị cáo H1 đã bồi thường cho bị hại số tiền 13.000.000 đồng. Đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo ở ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại; Kết luận giám định pháp y về thương tích; người làm chứng, hình ảnh camera kết quả dựng lại hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 13/12/2022, tại khu C, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng các bị cáo Nguyễn Yến L, Đặng Thùy D, Bùi Thị Hoàng H1 và Nguyễn Thị Mỹ T1 đã cùng nhau thực hiện hành vi dùng tay chân, cành cây và mũ bảo hiểm đánh chị Bùi Khánh L1 gây thương tích, làm chị L1 bị tổn thương cơ thể là 13% hành vi của các bị cáo đã phạm tội Cố ý gây thương tích với tình tiết định khung hình phạt là dùng hung khí nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng đã truy tố các bị cáo về tội danh theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, vụ án xảy ra có đồng phạm, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của công dân và còn gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo giáo dục các bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
- Xét về vai trò và nhân thân của các bị cáo:
[5] Bị cáo Nguyễn Yến L và bị cáo Đặng Thùy D là người cùng khởi xướng đã rủ các bị cáo khác thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại Bùi Khánh L1 và còn phân công bị cáo T1 dùng điện thoại quay Camera và đã dùng mũ bảo hiểm, cành cây đánh chị L1. Do đó, bị cáo L và bị cáo D có vai trò ngang nhau phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo L và bị cáo D không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L và bị cáo D là người có nhân thân tốt, thể hiện các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhất thời phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L và bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tác động với gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 14.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Vì vậy, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo L mới 16 tuổi 01 tháng 26 ngày, Đặng Thùy D mới 17 tuổi 3 tháng 15 ngày; các bị cáo được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại các điều 90, 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo còn trẻ tuổi, cần được học nghề đảm bảo cuộc sống. Do đó cần áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự để bị cáo được cải tạo ở ngoài xã hội và tiếp tục học tập.
[6] Bị cáo Bùi Thị Hoàng H1 là người bị rủ rê lôi kéo; Bị cáo H1 thực hiện hành vi dùng tay, chân đánh chị L1 hành vi của bị cáo H1 là sau bị cáo L và D.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hiện nay đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 13.000.000 đồng; đại diện bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo đang học lớp 12. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 4 tháng 13 ngày, bị cáo được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại các điều 90, 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo ở ngoài xã hội để tiếp tục học tập và nuôi con.
[7] Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T1, là người bị rủ rê lôi kéo, không tham gia đánh chị L1, nhưng đã thực hiện hành vi dùng diện thoại để ghi hình trong khi các bị cáo khác đánh chị L1, vai trò đồng phạm của bị cáo là không đáng kể trong vụ án. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự sau bị cáo L, D và H1.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tác động với gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 14.000.000 đồng; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bố là người có công. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 5 tháng 18 ngày, bị cáo được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại các điều 90, 91 và khoản 1 Điều 101 BLHS. Hội đồng xét xử thấy bị cáo còn trẻ tuổi, cần được học nghề để tự nuôi sống bản thân. Do đó cần áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự để bị cáo được cải tạo ở ngoài xã hội để được tiếp tục học tập.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và đại diện các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 55.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại và đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 90, 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Yến L và bị cáo Đặng Thùy D mỗi bị cáo 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 54 (Năm mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
- - Xử phạt bị cáo Bùi Thị Hoàng H1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T1 21 (Hai mươi một) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 42 (Bốn mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Yến L cho UBND phường M, quận N, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục.
Giao bị cáo Đặng Thùy D cho UBND phường C, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục.
Giao bị cáo Bùi Thị Hoàng H1 cho UBND phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T1 cho UBND phường C, quận N, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Nguyễn Yến L, Đặng Thùy D, Bùi Thị Hoàng H1 và Nguyễn Thị Mỹ T1 kể từ ngày thi hành án.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Yến L, Đặng Thùy D, Bùi Thị Hoàng H1 và Nguyễn Thị Mỹ T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người bào chữa cho các bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Đặng Trình |
Bản án số 81/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 81/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
