|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 81/2024/HS-PT Ngày: 25/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Thúy Huyền |
| - Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Nhật Duật |
| Ông Trần Quang Cường |
Thư ký phiên toà: Bà Tô Thị Lan Phương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Phạm Quỳnh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 25/11/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 95/2024/TLPT-HS ngày 8/10/2024 đối với bị cáo Lê Anh P do có kháng cáo bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 201/2024/HSST ngày 28/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Anh P; tên gọi khác: không; sinh ngày: 14/11/1994, tại Thái Nguyên; nơi thường trú: xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở: tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Dao; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Mạnh H và bà Bùi Thị Thiên H1; có chồng là Đào Văn L và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thanh V, ông Nguyễn Văn Đ, bà Ngô Thị Thùy L1 – Luật sư Công ty L2 – Chi nhánh Q thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Bà V vắng mặt; ông Đ, bà L1 có mặt.
Trong vụ án còn có bị hại Huỳnh Thị Kim O; sinh năm: 1997; nơi cư trú: tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đào Văn L; sinh năm: 1990; nơi cư trú: xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 13 giờ 15 phút ngày 26/4/2024, Lê Anh P ở tại phòng trọ số A thuộc tổ G, khu G, phường H, thành phố H, nảy sinh ý định đi chiếm đoạt tài sản. P lấy 01 tờ giấy ở phòng trọ để che biển kiểm soát 20B1 - 529.06 của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu vàng đen và đeo khẩu trang nhằm mục đích tránh né bị phát hiện. Khoảng 13 giờ 25 phút cùng ngày, P điều khiển xe mô tô trên đến đoạn đường ngã tư thuộc tổ G, khu G, phường H, thành phố H thì nhìn thấy bên phải đường có cửa hàng “Vàng bạc Kim Quy II” nên nảy sinh ý định chiếm đoạt vàng tại đây. P dừng xe trên đường, cách góc phía trước bên phải cửa hàng vàng 3,5 mét và để nguyên chìa khóa ở ổ khóa xe, đi bộ vào bên trong cửa hàng. Tại đây, P gặp chị Huỳnh Thị Kim O (sinh ngày 14/10/1997) đang mang thai 27 tuần là chủ cửa hiệu vàng, đang đứng bán hàng tại quầy. P nói dối muốn mua nhẫn vàng làm quà cưới thì chị O có tư vấn, lấy cho P xem một chiếc nhẫn vàng tròn, trơn loại 02 chỉ. Sau khi xem xong, P lấy lý do là không đúng ý nên không đồng ý mua và đi ra phía ngoài cửa hàng để cân nhắc việc có chiếm đoạt tài sản trên hay không. Ngay sau đó, P tiếp tục quay lại cửa hàng nói muốn xem loại nhẫn vàng 05 chỉ. Chị O lấy từ trong tủ kính đưa cho P xem một chiếc nhẫn vàng tròn, trơn loại 05 chỉ. P cầm xem đồng thời yêu cầu chị O cân chiếc nhẫn và viết hóa đơn để thanh toán tiền, chị O đồng ý và đặt chiếc nhẫn lên bàn cân trong tủ kính. Trong lúc chị O quay người để viết hóa đơn, P dùng tay phải mở nắp kính của tủ đựng cân rồi cầm lấy chiếc nhẫn vàng bỏ chạy khỏi cửa hàng. Khi tẩu thoát P đeo chiếc nhẫn lên ngón giữa bên tay trái và nhanh chóng điều khiển xe mô tô chạy về hướng phường G, thành phố H. Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, P mang chiếc nhẫn trên đến cửa hàng “Vàng bạc K" thuộc tổ A, khu C, phường G, thành phố H để bán cho chị Thái Thị Hồng H2, (sinh ngày 13/7/1989) thì thấy chị H2 nghe điện thoại. Do sợ bị phát hiện nên P đã cầm lại chiếc nhẫn và điều khiển xe về nhà trọ cất giấu để mang đi bán sau. Hồi 14 giờ cùng ngày, chị Huỳnh Thị Kim O đến Công an phường H, thành phố H để trình báo. Hồi 21 giờ cùng ngày, Lê Anh P đến Công an thành phố H đầu thú và khai nhận hành vi như trên. Ngoài ra, P khai quá trình thực hiện hành vi phạm tội, P chỉ chú ý đến việc chiếm đoạt vàng rồi nhanh chóng bỏ chạy nên P không biết chị O đang mang thai.
Tại Kết luận giám định số 3476/KL-KTHS ngày 16/05/2024 của V1 Bộ C, kết luận: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng dạng tròn, trơn, đường kính 02cm, mặt trong của nhẫn có khắc chữ, số "V.Kim Quy II 9999" có khối lượng 18,75 gam là vàng (Au), hàm lượng Au là 99,77%.
Tại Kết luận định giá tài sản số 81/KLĐGTS ngày 26/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng dạng tròn, trơn, đường kính 02cm, loại 05 chỉ, mặt trong của nhẫn có khắc chữ, số “V.Kim Quy II 9999”, tại thời điểm bị xâm phạm là: 37.400.000đ (ba mươi bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 696/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận: số khung, số máy của xe mô tô gắn biển số 20B1-529.06, dán mác Airbalde, lốc máy có chữ Honda, là số khung, số máy nguyên thuỷ.
Ngày 03/5/2024, Ủy ban nhân dân thành phố H có công văn số 3252/UBND-VP nội dung: căn cứ thời điểm xảy ra vụ việc, nhận thấy hành vi “cướp giật tài sản” xảy ra ngày 26/04/2024, tại khu G, phường H, thành phố H đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và các hoạt động khác tại khu vực xung quanh. Ủy ban nhân dân thành phố H đề nghị các đơn vị chức năng xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 201/2024/HS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long quyết định: căn cứ điểm h khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Anh P 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị bắt 26/4/2024, về tội: “Cướp giật tài sản”.
Ngoài ra, Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 5/9/2024 bị cáo Lê Anh P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Anh P bổ sung một phần quan điểm kháng cáo đề nghị xem xét cho bị cáo giữa tội Cướp giật tài sản và tội Trộm cắp tài sản; bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo không biết bị hại có thai, con bị cáo còn nhỏ, bị cáo là người dân tộc nên nhận thức pháp luật hạn chết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm người bào chữa cho bị cáo Lê Anh P tiếp tục trình bày quan điểm: Bị cáo P không cướp giật tài sản trên tay bị hại, không dùng vũ lực hay thủ đoạn nào khác để chiếm đoạt tài sản của bị hại, đề nghị xem xét tội danh của bị cáo chỉ là Công nhiên chiếm đoạt tài sản; các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ căn cứ công văn của UBND thành phố H để định tội bị cáo là không phù hợp. Bị cáo không biết người bị hại đang mang thai nên áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là chưa phù hợp. Đề nghị HĐXX phúc thẩm cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, m, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị cáo là người dân tộc thiểu số, lạc hậu, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu. Từ những phân tích trên đề nghị HĐXX xem xét tội danh đối với bị cáo; đồng thời áp dụng điểm b, s, h, m, i khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với quan điểm của người bào chữa: bị cáo lợi dụng sơ hở của chị O, ngay tức khắc chiếm đoạt tài sản, hành vi đã hoàn thành, bị cáo thực hiện hành vi cướp giật vào ban ngày, nơi tập trung đông dân cư, nhiều hoạt động kinh doanh, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. UBND thành phố H có văn bản số 3252 ngày 03/5/2024 với nội dung: hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và các khu vực xung quanh. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “cướp giật tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. bị cáo phạm tội đối với chị O khi chị O đang mang thai tuần thứ 27, bị cáo phải chịu tình tiết nặng “phạm tội đối với phụ nữ có thai” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, mà không buộc phải biết chị O đang mang thai. Về đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm h, m, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành, bị cáo đã chiếm đoạt được tài sản mang về nhà cất giấu, chị O đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Mặc dù bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhưng bị cáo có trình độ học vấn lớp 12/12, sinh sống ở xã thuộc thành phố T nên không có căn cứ cho rằng bị cáo lạc hậu và thiếu hiểu biết về pháp luật; bị cáo phạm tội lần đầu nhưng không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.. Từ những phân tích trên, đại diện VKS không chấp nhận quan điểm của những người bào chữa.
Bị cáo Lê Anh P không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo Lê Anh P làm trong hạn luật định nên chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về tội danh: quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Anh P đã khai nhận hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ; lời khai của người bị hại, những người làm chứng, Biên bản khám xét, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản ảnh, Bản kết luận giám định số 3476/KL-KTHS ngày 16/5/2024 của V1 - Bộ C; Bản kết luận định giá tài sản số 81/KLĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, việc Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử bị cáo Lê Anh P về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
-
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Lê Anh P thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo tuyên phạt bị cáo Lê Anh P mức án 36 tháng tù là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không đưa ra tình tiết giảm nhẹ mới để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo.
Đối với quan điểm của người bào chữa của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: thời điểm bị cáo thực hiện hành vi là vào dịp gần kỳ nghỉ lễ 30/4 và 01/5, UBND tỉnh Q nói chung và UBND thành phố H nói riêng tổ chức nhiều sự kiện quan trọng để thu hút khách du lịch đến tham quan, nghỉ lễ, góp phần kích cầu du lịch của T. Hành vi ngang nhiên giữa ban ngày, di chuyển đến tiệm V2 thực hiện hành vi cướp giật gây hoang mang cho người dân và khách du lịch, trong khi UBND thành phố H đã ban hành rất nhiều văn bản chỉ đạo đảm bảo trật tự, trị an trong dịp nghỉ Lễ. Ủy ban nhân dân thành phố H có Công văn số 3252/UBND-VP ngày 03/5/2024 với nội dung “hành vi cướp giật xảy ra ngày 26/4/2024 tại tổ G, khu G, phường H, thành phố H đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và các hoạt động khác của khu vực xung quanh. UBND thành phố H đề nghị các cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật”. Khi bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người bị hại, người bị hại đang mang thai 27 tuần, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự mà không bắt buộc phải biết người bị hại có thai.
Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, m, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thấy: hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành, bị cáo đã chiếm đoạt được tài sản là chiếc nhẫn mang về nhà cất giấu, bị cáo còn mang đi định bán cho cửa hàng vàng khác nhưng sợ bị lộ nên lại mang về cất giấu. Bị cáo tuy là người dân tộc thiểu số, nhưng bị cáo có trình độ học vấn lớp 12/12, sinh sống ở xã thuộc thành phố T nên không có căn cứ chấp nhận quan điểm của người bào chữa cho bị cáo về việc bị cáo phạm tội chưa gây hậu quả, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên lạc hậu, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Bị cáo phạm tội lần đầu nhưng không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không chấp nhận toàn bộ quan điểm đề nghị của người bào chữa. Chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Anh P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-
Tuyên bố: bị cáo Lê Anh P phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ: điểm h khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Lê Anh P 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị bắt 26/4/2024
-
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án
Bị cáo Lê Anh P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Quang Cường Nguyễn Nhật Duật |
Nguyễn Thị Thúy Huyền |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Huyền |
Bản án số 81/2024/HS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự phúc thẩm về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 81/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Anh P - Cướp giật tài sản
