|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 08 - 2023 “Về việc: Ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Khánh.
Các hội thẩm nhân dân: ông Lưu Xuân Vĩnh và ông Phan Duy Bản.
- Thư ký phiên tòa: ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2023/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 05 năm 2023, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 07 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 35/TB-TA ngày 09 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Hùng Văn T, sinh năm 1966, nơi cư trú: Tổ H, khu phố T, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: bà Hoàng Thị M, sinh năm 1966, nơi cư trú: Tổ H, khu phố T, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện và lời khai đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Hùng Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông Hùng Văn T và bà Hoàng Thị M tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 nhưng không đăng ký kết hôn. Ông T, bà M chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng; bà M không tin tưởng ông T, thường xuyên ghen tuông vô cớ; từ đó ông T, bà M bên thường xuyên xảy ra gây gỗ, cải nhau, cuộc sống không hạnh phúc nên ông T đã bỏ đi làm thuê, sinh sống ở địa phương khác và không còn chung sống với bà M. Cũng trong năm 2017, ông T quen biết, yêu thương rồi chung sống như vợ chồng với bà Hoàng Thị K cho đến nay. Hiện nay ông T không còn yêu thương bà M, không muốn tiếp tục chung sống với bà M, không có nguyện vọng kết hôn với bà M nên yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận ông T, bà M là vợ chồng.
Về con chung: ông T, bà M có 04 người con chung tên tên Hùng Văn P, sinh năm 1990; Hùng Văn C, sinh năm 1993; Hùng Văn T1, sinh năm 1994 và Hùng Thị Đ, sinh năm 1995. 04 người con chung này đều đã thành niên và có khả năng lao động nên ông T không có yêu cầu giải quyết việc nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, ông T không có yêu cầu nào khác trong vụ án.
[2]. Thể hiện tại biên bản lấy lời khai ngày 20/06/2023 (Bút lục số 18), bị đơn bà Hoàng Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà Hoàng Thị M, ông Hùng Văn T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1988 nhưng không đăng ký kết hôn. Bà M, ông T chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì ông T đi làm ăn xa và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác; từ đó bà M, ông T không còn sống chung với nhau. Khoảng đầu năm 2023, ông T dẫn người phụ nữ này về, rồi gây gỗ, cải nhau với bà M; bà M và các con đã nhiều lần khuyên bảo nhưng ông T không thay đổi, không đồng ý đoàn tụ với bà M mà vẫn tiếp tục chung sống với người phụ nữ này. Hiện nay, bà M vẫn còn yêu thương ông T, mong muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông T nên bà M không đồng ý ly hôn.
Về con chung: bà M và ông T có 04 người con chung tên là Hùng Văn P, sinh năm 1990; Hùng Văn C, sinh năm 1993; Hùng Văn T1, sinh năm 1994 và Hùng Thị Đ, sinh năm 1995. Các con chung này đều đã thành niên và có khả năng tự lao động nên bà M không có yêu cầu giải quyết việc nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà M không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, bà M không có yêu cầu gì trong vụ án.
[4]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 Đơn xác nhận tình trạng hôn nhân của ông Hùng Văn T, có nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận
[5]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hùng Văn T và bà Hoàng Thị M; buộc ông Hùng Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Hùng Văn T2 vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Hoàng Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Trong vụ án, chỉ có yêu cầu của nguyên đơn ông Hùng Văn T, yêu cầu giải quyết ly hôn; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn” là đúng pháp luật.
Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; bị đơn bà Hoàng Thị M có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn ông Hùng Văn T, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận thể hiện trong đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân ghi ngày 19/05/2023 mà nguyên đơn ông Hùng Văn T đã cung cấp; căn cứ lời khai thống nhất của các đương sự; có đủ cơ sở xác định được: ông Hùng Văn T, bà Hoàng Thị M tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ khoảng năm 1988 - 1989 nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng đối với ông T, bà M theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình; đồng thời khi có yêu cầu ly hôn thì cần giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.
Các đương sự đều thừa nhận: trong quá trình chung sống, giữa ông T, bà M đã xảy mâu thuẫn nhiêm trọng và ông T, bà M đã không còn chung sống với nhau từ khoảng 04 năm nay. Hiện nay ông T không còn yêu thương bà M, không muốn chung sống với bà M và không có nguyện vọng kết hôn với bà M. Do đó, có đủ cơ sở xác định được: ông T, bà M đã xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông Hùng Văn T, xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hùng Văn T, bà Hoàng Thị M.
[3.2] Về việc nuôi con:
Căn cứ các Giấy khai sinh mà nguyên đơn ông Hùng Văn T đã cung cấp; căn cứ lời khai thống nhất của các đương sự; có đủ cơ sở xác định ông T, bà M có 04 người con chung tên là Hùng Văn P, sinh năm 1990; Hùng Văn C, sinh năm 1993; Hùng Văn T1, sinh năm 1994 và Hùng Thị Đ, sinh năm 1995. Các đương sự đều xác định 04 người con chung này đều đã thành niên, có khả năng lao động, các đương sự không yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Do đó hội đồng xét xử không xét xử, giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét xử, giải quyết trong vụ án này.
[3.4] Về án phí: Cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc ông Hùng Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận:
Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 điều 147, các Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hùng Văn T: tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hùng Văn T và bà Hoàng Thị M.
- Về án phí: buộc ông Hùng Văn T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0016128 ngày 31/05/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, ông Hoàng Văn T3 đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Khánh |
Bản án số 81/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 81/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hùng Văn T ly hôn Hoàng Thị M
