Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày 24 - 6 - 2024

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lãnh Văn Việt;
  2. Ông Tạ Văn Doanh.

Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/HSST ngày 22/5/2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/HSST- QĐ ngày 27/5/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 08/TB-TA ngày 05/6/2024 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1990; Tên gọi khác: Không; Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Dân tộc: Sán Chí; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 09/12; Bố đẻ: Trần Văn T1; mẹ đẻ La Thị S; Vợ Lâm Thị S1, Con: Có 2 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 25/01/2024, Ủy ban nhân dân xã K, huyện L ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã lý do là vào ngày 26/12/2023 và ngày 06/01/2024 Công an xã K, huyện L Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC và số 02/QĐ-XPHC đối với Trần Văn T về cùng hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức xử phạt: Phạt tiền, với mức phạt mỗi lần là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Trần Văn T chưa chấp hành nộp phạt theo quyết định vi phạm hành chính. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay “có mặt”

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1960 “có mặt”.

Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1988 “vắng mặt”.
  2. Anh Ninh Văn D, sinh năm 1995 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi trưa ngày 15/3/2024, trên đường đi làm về Trần Văn T phát hiện tại vườn nhà bà Nguyễn Thị Q ở cùng thôn có trồng cây vải, bưởi và cây chè hoa vàng. Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên T nảy sinh ý định vào vườn nhà bà Q trộm cắp cây chè hoa vàng để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/3/2024, T cầm 01 con dao liềm và đi bộ một mình từ nhà sang vườn nhà bà Q để trộm cắp tài sản. T dùng dao liềm mang theo đào gốc, cắt rễ 04 cây chè hoa vàng rồi mang về nhà lấy đất bó lại thành bầu. Sau đó T gọi điện cho anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1988 và anh Ninh Văn D, sinh năm 1995, cùng trú tại: thôn H, xã K, huyện L để bán, thì anh T2 và anh D đồng ý mua. Đến ngày 17/3/2024, T mang 03 cây chè hoa vàng trộm cắp được đến bán cho anh T2 với giá 700.000₫ (bẩy trăm nghìn đồng) trong đó 01 cây với giá 300.000đ và 02 cây với giá 200.000đ, còn một cây T để ở nhà. Đến tối ngày 17/3/2024, anh D đến nhà T mua cây chè hoa vàng còn lại với giá 200.000đ, anh D nhờ T mang đến nhà anh T2 để anh D đến lấy sau. Số tiền bán 04 cây chè hoa vàng, T khai đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 18/3/2024, bà Nguyễn Thị Q làm đơn trình báo sự việc đến Công an xã K, huyện L.

Ngày 19/3/2024, Trần Văn T đầu thú và giao nộp 01 con dao liềm bằng kim loại màu đen, có cán bằng gỗ, tổng chiều dài 50cm, phần dao bằng kim loại dài 40cm, cán gỗ 10cm, lưỡi dao rộng 4cm do T sử dụng trộm cắp 04 cây chè hoa vàng tại vườn nhà bà Q.

Cùng ngày 19/3/2024, anh Nguyễn Văn T2 tự nguyện giao nộp cho Công an xã K 04 cây chè hoa vàng có số đo chiều dài, chu vi gốc và đường kính tán lần lượt là: cây số 1: (200; 20; 120) cm; cây số 2: (203; 26; 220) cm; cây số 3: (185; 15; 200) cm; cây số 4: (240; 18; 220) cm do anh T2 và anh D mua của T trước đó để phục vụ giải quyết vụ án.

Cùng ngày Công an xã K báo cáo vụ việc, bàn giao đối tượng cùng tang vật, tài liệu có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 (một) cây chè hoa vàng có số đo chiều dài, chu vi gốc và đường kính tán lần lượt là (185;15;200) cm trị giá 2.000.000 đồng; 01 (một) cây chè hoa vàng có số đo chiều dài, chu vi gốc và đường kính tán lần lượt là (240;18;220) cm trị giá 2.200.000 đồng; 01 (một) cây chè hoa vàng có số đo chiều dài, chu vi gốc và đường kính tán lần lượt là (200;20;120) cm trị giá 2.500.000 đồng; 01 (một) cây chè hoa vàng có số đo chiều dài, chu vi gốc và đường kính tán lần lượt là (203;26;220) cm trị giá 2.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp (04 cây chè hoa vàng) xác định là: 9.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã dẫn giải Trần Văn T đi chỉ xác định vị trí trộm cắp tài sản. Kết quả phù hợp với lời khai của bị hại trong vụ án.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Bị cáo không ý kiến gì nội dụng bản cáo trạng cũng như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 19/3/2024, Công an xã K bàn giao 04 cây chè hoa vàng đã thu giữ cho bà Q quản lý, chăm sóc. Ngày 28/3/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện L ra quyết định trả lại cho bà Q 04 cây chè hoa vàng nêu trên. Bà Q tại phiên tòa yêu cầu Trần Văn T phải bồi thường cho bà 3 triệu đồng, bị cáo T đồng ý bồi thường theo cầu của bà Q. Anh Nguyễn Văn T2 và anh Ninh Văn D không yêu cầu T trả lại anh số tiền đã bỏ ra để mua cây chè hoa vàng.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những đương sự vắng mặt tại phiên tòa trong quá trình điều tra. Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì về lời khai của đương sự vắng mặt.

Bản cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 10 tháng đến 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại, bị cáo T bồi thường cho bà Q số tiền 03 triệu đồng. Ngoài ra còn đề xuất về xử lý vật chứng, án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/3/2024, tại vườn của gia đình bà Nguyễn Thị Q, trú tại: thôn N, xã K, huyện L, Trần Văn T đã có hành vi trộm cắp 04 cây chè hoa vàng có số đo chiều dài, chu vi gốc và đường kính tán lần lượt là: cây số 1: (200; 20; 120) cm; cây số 2: (203; 26; 220) cm; cây số 3: (185; 15; 200) cm; cây số 4: (240; 18; 220) cm có tổng trị giá là 9.500.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội tự nguyện ra đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, vì vậy bị cáo được quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Bị cáo nhân thân đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính và bị áp dụng biện pháp giáo dục tại UBND xã; Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nên cần giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta. Xét mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Về hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền: Do bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường dân sự, xét thấy sự thỏa thuận là tự nguyện, căn cứ vào quy định tại Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự: cần công nhận sự thỏa thuận, bị cáo bồi thường cho bà Q số tiền 03 triệu đồng.

Đối với anh Nguyễn Văn T2 và anh Ninh Văn D do không yêu cầu T trả lại anh số tiền đã bỏ ra để mua cây chè hoa vàng nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về vật chứng của vụ án: Đối vật chứng là công cụ phạm tội không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy 01 con dao liềm bằng kim loại màu đen theo đúng quy định Điều 47 Bộ luật hình sư; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với anh Nguyễn Văn T2 và anh Ninh Văn D, quá trình điều tra xác định anh T2 và anh D không biết số cây chè hoa vàng nêu trên do T trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với chiếc điện thoại do T sử dụng để liên lạc với anh T2 và anh D để bán số cây chè hoa vàng trộm cắp được, quá trình điều tra T khai đã đánh rơi nhưng không rõ rơi ở đâu nên cơ quan điều tra không có căn cứ để truy tìm, xử lý theo quy định là có căn cứ.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo chịu án phí; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 01 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/3/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự: Công nhận sự thỏa thuận bị cáo và bị hại, cụ thể: Bị cáo Trần Văn T bồi thường cho bà Nguyễn Thị Q số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  3. Về xử lý vất chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao liềm bằng kim loại màu đen có cán bằng gỗ, tổng chiều dài 50cm, phần dao bằng kim loại dài 40cm, cán gỗ 10cm, lưỡi dao rộng 04 cm.
  4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật THA dân sự thì người được THA dân sự, người phải THADS có quyền thỏa thuân THA yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại các điều 6,7,7ª,7b và điều 9 Luật THA dân sự thời hiệu THA được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật THA dân sự.

    Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

    Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Kiên Lao;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xu sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger