Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HSST

Ngày: 24 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.
  2. Bà Võ Thị Mai.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn D, sinh năm 1982, tại: Hà Nam; Địa chỉ thường trú: thôn A, xã B, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Làm tự do; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Xuân O, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1960; Có vợ Nguyễn Thị N1, sinh năm 1986, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền sự: không; Tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay; (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị L, sinh năm 1966, địa chỉ: Số 3 đường H, Phường I, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 24/12/2023, Tổ Công tác số 01 - Lực lượng 363 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra ghi nhận tại trước địa chỉ số 338 đường Phan Huy Ích, Phường 12, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Lê Văn D và Đỗ Trung Hiếu điều khiển xe máy biển số 86B6-536.27 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng lại kiểm tra. Kiểm tra điện thoại của Đỗ Trung Hiếu không có giao dịch đánh bạc, cho vay lãi nặng, test nhanh âm tính với chất ma túy, xuất trình được giấy tờ tùy thân và giấy tờ xe. Kiểm tra điện thoại Samsung Galaxy M51 của Lê Văn D, Tổ công tác phát hiện có dữ liệu liên quan đến việc cho một người phụ nữ tên Võ Thị L (số điện thoại di động số 04377865xxx) vay 200 triệu đồng với lãi suất 10%/tháng, thời gian vay bắt đầu từ ngày 23/02/2023.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp, Lê Văn D khai nhận: Thông qua bạn bè giới thiệu nên Lê Văn D và chị Võ Thị L (Sinh năm 1966; HKTT: Số 03 đường Lê Thị Pha, Phường 1, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng) quen biết nhau từ năm 2020. Quá trình quen biết, chị Võ Thị L biết Lê Văn D hoạt động cho vay lãi, do cần tiền làm ăn nên chị Võ Thị L hỏi vay của Lê Văn D 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) với lãi suất theo thỏa thuận 10%/tháng (tương đương 20.000.000 đồng/tháng) thì Lê Văn D đồng ý cho vay.

Ngày 23/02/2023, Lê Văn D ở nhà tại địa chỉ Phòng 402, Lô C3, Chung cư Khang Gia, Phường 14, quận Gò Vấp, sử dụng tài khoản ngân hàng Techcombank số 19035106101018 đứng tên Lê Văn D chuyển 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng BIDV số 64210000012864 đứng tên Võ Thị L.

Theo thỏa thuận, từ ngày 31/3/2023 đến ngày 05/10/2023, chị Võ Thị L sử dụng tài khoản ngân hàng BIDV số 64210000012864 chuyển 10 lần tiền lãi đến tài khoản ngân hàng Techcombank số 19035106101018 của Lê Văn D để trả lãi vay, cụ thể: 31/3/2023 chuyển 30.000.000 đồng; ngày 20/4/2023 chuyển 10.000.000 triệu đồng; ngày 04/5/2023 chuyển 10.000.000 triệu đồng; ngày 17/5/2023 chuyển 10 triệu đồng; ngày 26/5/2023 chuyển 10 triệu đồng; ngày 24/6/2023 chuyển 10 triệu đồng; ngày 25/7/2023 chuyển 10 triệu đồng; ngày 15/8/2023 chuyển 15 triệu đồng; ngày 14/9/2023 chuyển 10 triệu đồng; đến ngày 05/10/2023, chị Võ Thị L chuyển 220 triệu để trả cả gốc và lãi vay.

Theo thỏa thuận từ ngày 23/02/2023 đến ngày 05/10/2023, Lê Văn D thu tiền lãi từ chị Võ Thị L là 150.000.000 đồng (trong vòng 7,5 tháng) nhưng thực tế Lê Văn D thu được 135.000.000 đồng tiền lãi từ chị Võ Thị L, phần còn lại 15.000.000 đồng Lê Văn D đồng ý xóa nợ cho chị Võ Thị L. Lê Văn D đã thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với tổng số tiền 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) sau khi đã trừ tiền lãi suất theo quy định là không quá 20%/năm (1,667% x 7.5 tháng x 200.000.000 đồng = 25.000.000 đồng).

Vật chứng vụ án:

  • 01 Samsung Galaxy M51 (đã qua sử dụng) thu của Lê Văn D.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 05/PNK ngày 10/01/2024.

Về bồi thường trách nhiệm dân sự: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị L đã nhận bồi thường trách nhiệm dân sự, không yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 70/CT-VKS-GV ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Lê Văn D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 32, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  • Xử phạt bị cáo Lê Văn D 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng.
  • Đối với khoản tiền lãi vượt quá mức lãi suất 20% theo quy định của pháp luật là 110.000.0000 (một trăm mười triệu) đồng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị L vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện (theo Giấy xác nhận đề ngày 26/01/2024) bà đã nhận lại nên không có yêu cầu gì hay yêu cầu bồi thường.
  • Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% theo quy định của pháp luật là 25.000.000 (hai mươi lắm triệu) đồng. Tuy không tính khi xác định trách nhiệm hình sự nhưng đây cũng là số tiền phát sinh từ hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo nộp lại để tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.
  • Đối với số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng là khoản tiền mà bị cáo cho vay được xác định là phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung M51, màu đen đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng điện thoại này để liên lạc, nhắn tin đòi tiền bà Võ Thị L, là phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Lê Văn D đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật đã được thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Bị cáo thông qua việc cho bà Võ Thị L vay số tiền 200.000.000 đồng, với lãi suất 10%/tháng, tương đương 120%/năm, cao gấp 6 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Thu lợi bất chính là 150.000.000 đồng (nhưng thực tế bị cáo nhận 135.000.000 đồng, do bị cáo giảm cho bà Long số tiền 15.000.000 đồng). Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Lê Văn D đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, tín dụng mà ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Với hành vi nêu trên, xét thấy cần phải có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét một số tình tiết: tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo. Lần đầu phạm tội, khắc phục hậu quả, có nơi cư trú rõ ràng đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng vụ án:

  • Đối với khoản tiền lãi vượt quá mức lãi suất 20% theo quy định của pháp luật là 110.000.0000 (một trăm mười triệu) đồng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị L vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện (theo Giấy xác nhận đề ngày 26/01/2024) bà đã nhận lại nên không có yêu cầu gì hay yêu cầu bồi thường.
  • Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% theo quy định của pháp luật là 25.000.000 (hai mươi lắm triệu) đồng. Tuy không tính khi xác định trách nhiệm hình sự nhưng đây cũng là số tiền phát sinh từ hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo nộp lại để tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.
  • Đối với số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng là khoản tiền mà bị cáo cho vay được xác định là phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung M51, màu đen đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng điện thoại này để liên lạc, nhắn tin đòi tiền bà Võ Thị L, là phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước.

[7] Đối với ông Đỗ Trung Hiếu đi chung với bị cáo không có nội dung vi phạm pháp luật nên Cơ quan điều tra không xử lý với ông Đỗ Trung Hiếu là đúng quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Văn D 01 (một) năm tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Lê Văn D ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Lê Văn D cho Ủy ban nhân dân xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể ra quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Buộc bị cáo Lê Văn D phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Buộc bị cáo nộp lại khoản tiền mà bị cáo cho vay là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng để tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo nộp lại khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% theo quy định của pháp luật là 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng để tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.

Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung M51, màu đen.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 05/PNK ngày 10/01/2024 của Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp;
  • - Thi hành án Q. Gò Vấp;
  • - Công an Q. Gò Vấp;
  • - Bị cáo;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 81/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger