|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HS-ST |
|
|
Ngày 23 tháng 8 năm 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Thái và ông Nguyễn Thiện Pháp
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Phan Bá T, sinh năm 1982. Nơi thường trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện nay: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T1, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1960; Anh, em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ nhất; Vợ tên Lâm Thị Diễm K, sinh năm 1983; bị cáo chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024, đến ngày 23/01/2024 tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Phan Thị Thiên A, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T1, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1960; Anh, em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ hai; Chồng tên Nguyễn Văn B, sinh năm 1981 (đã ly hôn); Con tên Nguyễn Thị Hoàng N, sinh năm 2003.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 25/7/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024, đến ngày 23/01/2024 tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Nguyễn Thị Ánh T2, sinh năm 1982. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng T3, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1966; Anh, em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; Chồng tên Lê Văn T4, sinh năm 1985; Con có 02 người, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lâm Thị Diễm K, sinh năm 1983. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Hồng T3 (vắng mặt).
2/ Ông Lê Văn Đ (vắng mặt).
3/ Ông Phan Văn T1 (vắng mặt).
4/ Bà Nguyễn Thị Á (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 15/01/2024, nhận tin báo của quần chúng nhân dân, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T bắt quả tang Phan Bá T đang tiến hành giao 2.110 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm 900 bao hiệu Nelson, 550 bao hiệu Hero, 500 bao hiệu Jet, 160 bao hiệu Scott cho Nguyễn Thị Ánh T2 tại nhà T2 thuộc khóm T, thị trấn Ó, huyện T nên lực lượng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và tiệm tạp hóa của T tại ấp T, xã V, huyện T thu giữ phía sau nhà 860 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 510 bao hiệu Hero, 200 bao hiệu Nelson,150 bao hiệu Jet. Trong tiệm T 6 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 70 bao hiệu Nelson, 50 bao hiệu Hero, 07 bao hiệu Scott, số thuốc này T khai mua của N2 (không rõ nhân thân) bán lại kiếm lời.
Vật chứng thu giữ: 3.097 bao thuốc lá hiệu Hero, J, N3, S; xe mô tô biển số 67M1-313.22, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, số máy JA32E1132199, số khung 3201EY059423; Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A21s, số IMEI 1: 351662610072623 và số IMEI 2: 352465210072624, trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim và 01 thẻ nhớ; Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy J3 Pro, số IMEI 1: 354814093439962 và số IMEI 2: 354815093439969, trong điện thoại có gắn 01 thẻ sim và 01 thẻ nhớ.
Tại Kết luận giám định số 187 ngày 17/3/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, ghi nhận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 02 điện thoại di động (kí hiệu A1, A2) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi giám định, chi tiết thể hiện trong đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.
Quá trình điều tra, còn xác định: Để có tiền tiêu xài cá nhân, từ ngày 20/12/2023 đến ngày 15/01/2024, T, Thiên A nhiều lần bán thuốc lá điếu nhập lậu cho các chủ tiệm tạp hóa, thu lợi mỗi bao thuốc 100 đồng. Cụ thể, khi có người cần mua thuốc lá, sẽ trực tiếp đến tiệm tạp hóa của T gặp Thiên A hoặc T2 sử dụng sim điện thoại số 0783.933.xxx gọi vào sim điện thoại số 0846.798.xxx của Thiên A đặt số lượng, loại thuốc, địa điểm giao nhận thuốc lá, sau đó Thiên A sử dụng Zalo tên “Thiên A” nhắn tin hoặc gọi điện vào Zalo của T tên “Btp” thông tin cho T biết. Tiếp đó, T sử dụng sim điện thoại số 0907.822.xxx gọi điện thoại cho người thanh niên tên N2, H (chưa xác định được nhân thân, không nhớ sim số) liên hệ mua thuốc lá. Khi thuốc lá được giao đến nhà T, thì T xếp thuốc lá vừa được chuyển đến lên xe mô tô biển số 67M1-313.22 một mình điều khiển xe đi giao cho người mua. Bằng cách thức trên, T và Thiên A đã nhiều lần bán thuốc lá điếu nhập lậu cho T2, cụ thể:
- Tháng 12/2023, bán 250 bao thuốc lá hiệu Scott, giá 14.500 đồng/bao, thành tiền 3.625.000 đồng. Trong đó, T2 đã bán được 90 bao, còn lại 160 bao cất giấu trong kho chứa hàng đã bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ vào ngày 15/01/2024.
- Ngày 25/12/2023, bán 60 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao; 10 bao thuốc lá hiệu Scott, giá 14.500 đồng/bao, thành tiền 1.117.000 đồng.
- Ngày 30/12/2023, bán 20 bao thuốc lá hiệu Nelson, giá 13.200 đồng/bao, thành tiền 264.000 đồng.
- Ngày 03/01/2024, bán 30 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao, 20 bao thuốc lá hiệu Jet, giá 19.300 đồng/bao, thành tiền 872.000 đồng.
Như vậy, tổng số thuốc lá T2 đã mua của T, Thiên A để bán lại cho khách vãng lai là 2.340 bao, thành tiền 36.266.000 đồng. Trong đó, số thuốc lá bán trót lọt là 230 bao, thu lợi bất chính khoảng 3.000.000 đồng.
Ngoài số lượng thuốc lá điếu nhập lậu T và Thiên A đã bán cho T2 như trên, thì T và Thiên A còn bán thuốc lá điếu nhập lậu trót lọt cho nhiều người khác, cụ thể:
- Ngày 20/12/2023, bán cho X (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) 10 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao; 10 bao thuốc lá hiệu Jet, giá 19.300 đồng/bao; 10 bao thuốc lá hiệu Nelson, giá 13.200 đồng/bao, thành tiền 487.000 đồng.
- Ngày 20/12/2023, bán cho người phụ nữ lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ), 50 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao; 30 bao thuốc lá hiệu Jet, giá 19.300 đồng/bao, thành tiền 1.394.000 đồng.
- Ngày 25/12/2023, bán cho X (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) 20 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao; 10 bao thuốc lá hiệu Jet, giá 19.300 đồng/bao, thành tiền 517.000 đồng.
- Ngày 29/12/2023, bán cho người phụ nữ lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ), 20 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao; 10 bao thuốc lá hiệu Nelson, giá 13.200 đồng/bao, thành tiền 456.000 đồng.
- Ngày 01/01/2024, bán cho Y (không rõ họ tên, địa chỉ) 10 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao; 10 bao thuốc lá hiệu Jet, giá 19.300 đồng/bao, thành 355.000 đồng.
- Ngày 02/01/2024, bán cho người lạ mặt ở thị trấn Ó (không rõ họ tên, địa chỉ) 20 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao; 10 bao thuốc lá hiệu Jet, giá 16.200 đồng/bao, thành tiền tiền 517.000 đồng.
- Ngày 03/01/2024, bán cho người lạ mặt ở xã T, huyện T (không rõ họ tên, địa chỉ) 200 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao, 50 bao thuốc lá hiệu Nelson, giá 13.200 đồng/bao, thành tiền 3.900.000 đồng.
- Ngày 08/01/2024, bán cho X (không rõ họ tên, địa chỉ) 20 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao; 20 bao thuốc lá hiệu Jet, giá 19.300 đồng/bao, thành tiền 710.000 đồng.
- Ngày 08/01/2024, bán cho người lạ mặt ở xã T, huyện T (không rõ họ tên, địa chỉ) 150 bao thuốc lá hiệu Hero, giá 16.200 đồng/bao; 100 bao thuốc lá hiệu Jet, giá 19.300 đồng/bao; 50 bao thuốc lá hiệu Nelson, giá 13.200 đồng/bao, thành tiền 5.020.000 đồng.
- Ngày 14/01/2024, T liên hệ với N2 mua 990 bao thuốc các hiệu Hero, N3, J, S mang về nhà cất giấu. Sau đó, T lấy 130 bao thuốc lá mang ra tiệm tạp hóa để Thiên A bán cho khách vãng lai, bán được 03 bao, số thuốc lá còn lại T không cho Thiên A biết đang cất giấu ở nhà, hiện số thuốc lá này đã bị lực lượng Công an thu giữ vào ngày 15/01/2024.
Như vậy, tổng số thuốc lá điếu nhập lậu T đã bán cho những người mua là 4.140 bao, thành tiền 65.350.000 đồng, trong số thuốc lá bán trót lọt 1.203 bao, thành tiền 19.272.000 đồng, thu lợi bất chính khoảng 5.000.000 đồng. Riêng, Thiên A giúp sức cho T bán tổng số 3.280 bao thuốc lá điếu nhập lậu, thành tiền 31.553.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 66/CT-VKS, ngày 18/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Phan Bá T, Phan Thị Thiên A về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cáo Nguyễn Thị Ánh T2 về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phan Bá T, Phan Thị Thiên A và Nguyễn Thị Ánh T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Thị Diễm K, những người làm chứng Nguyễn Hồng T3, Lê Văn Đ, Phan Văn T1, Nguyễn Thị Á trình bày như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với các bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Bá T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thị Thiên A từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù. Đề nghị tổng hợp hình phạt 01 năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 46/2022/HS-ST ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh T2 từ 01 năm đến 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 đến 04 năm. Áp dụng Điều 35, khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, cụ thể, phạt tiền mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Ngoài ra, đề nghị buộc bị cáo T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 5.000.000 đồng và bị cáo T2 3.000.000 đồng. Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tất cả những người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phan Bá T, Phan Thị Thiên A và Nguyễn Thị Ánh T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Từ ngày 20/12/2023 đến ngày 15/01/2024, Phan Bá T, Phan Thị Thiên A đã thực hiện hành vi buôn bán 4.140 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Nelson, H1, J và S là hàng cấm.
Nguyễn Thị Ánh T2 đã thực hiện hành vi buôn bán 2.340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Nelson, H1, J và S là hàng cấm.
Hành vi của bị cáo Phan Bá T, Phan Thị Thiên A đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, bị cáo Nguyễn Thị Ánh T2 đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước đối với các loại hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh; vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá; gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo xuất thân thành phần lao động, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức rõ thuốc lá điếu nhập lậu là hàng hóa cấm buôn bán, nhưng do hám lợi, lười lao động nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm thu lợi bất chính cho bản thân. Đây là vụ án đồng phạm nhưng thuộc trường hợp giản đơn, diễn biến vụ án cho thấy bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Thiên A cùng thực hiện tội phạm; đồng thời, bị cáo T là người trực tiếp vận chuyển, mua bán 4.140 bao thuốc lá với Q, Y, X, N2, H, T2. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người chủ mưu, trực tiếp thực hiện tội phạm nên mức hình phạt áp dụng đối với T phải cao hơn và có phần nghiêm khắc hơn so với bị cáo Thiên A.
Đối với bị cáo Thiên A tham gia với vai trò là người giúp sức tích cực cho bị cáo T, bằng việc nhận thông tin về số lượng, loại thuốc lá điếu nhập lậu mà người mua yêu cầu, sau đó bị cáo gọi điện thoại hoặc nhắn tin qua Zalo cho T biết, để giao dịch mua bán 3.280 thuốc lá các loại cho người mua. Về nhân thân bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Buôn bán hàng cấm” nhưng trong thời gian thử thách án treo lại tiếp tục phạm tội mới, thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Ngoài ra khi quyết định hình phạt, áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự chuyển hình phạt 01 năm tù cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm” tại bản án hình sự sơ thẩm số 46/2022/HS-ST ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thành án giam và tổng hợp hình phạt theo Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.
Đối với bị cáo T2 trực tiếp thực hiện việc liên hệ, mua thuốc lá điếu nhập lậu số lượng lớn, bán lại cho khách hàng để kiếm lợi nhuận với số lượng 2.340 bao thuốc lá điếu các loại trị giá 36.266.000 đồng, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo gây ra nhưng nhẹ hơn bị cáo T và bị cáo Thiên A.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thị Ánh T2 phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo như quan điểm của Viện Kiểm sát tại phiên tòa cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[5] Đối với: Q, Y, X, N2, H chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo có tính lợi ích vật chất nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; đồng thời buộc bị cáo T và T2 nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Phan Bá T, Nguyễn Thị Ánh T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Riêng đối với bị cáo Phan Thị Thiên A tái phạm thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định lại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 3.097 bao thuốc lá hiệu Hero, J, N3, S là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; đối với xe mô biển số 67M1-313.22, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, số máy JA32E1132199, số khung 3201EY059423; Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A21s, số IMEI 1: 351662610072623 và số IMEI 2: 352465210072624, trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim và 01 thẻ nhớ; Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy J3 Pro, số IMEI 1: 354814093439962 và số IMEI 2: 354815093439969, trong điện thoại có gắn 01 thẻ sim và 01 thẻ nhớ là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Bá T, Phan Thị Thiên A và Nguyễn Thị Ánh T2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Bá T 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 01 năm 2024.
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 55, Điều 38, Điều 58, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Thị Thiên A 05 năm tù. Tổng hợp hình phạt bản án hình sự sơ thẩm số 46/2022/HS-ST ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” (chuyển án treo thành giam). Buộc bị cáo chấp hành hình phạt của hai bản án 06 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 01 năm 2024.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh T2 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm kể từ ngày tuyên án (23/8/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Ánh T2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Ánh T2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 35, khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 phạt bị cáo Phan Bá T, Phan Thị Thiên A và Nguyễn Thị Ánh T2 mỗi bị cáo số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
Buộc bị cáo Phan Bá T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 5.000.000 đồng và bị cáo Nguyễn Thị Ánh T2 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng.
Tiền phạt 20.000.000 đồng và nộp lại tiền thu lợi bất chính 5.000.000 đồng của bị cáo Phan Bá T được trừ vào số tiền 30.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0005777 ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, bị cáo T được nhận lại số tiền 5.000.000 đồng.
Tiền phạt 20.000.000 đồng của bị cáo Phan Thị Thiên A được trừ vào số tiền 30.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0005778 ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, bị cáo Thiên A được nhận lại số tiền 10.000.000 đồng.
Tiền phạt 20.000.000 đồng và nộp lại tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T2 được trừ vào số tiền 30.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0005769 ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, bị cáo T2 được nhận lại số tiền 7.000.000 đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyên Thoại Sơn để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tịch thu tiêu hủy:
- - Thùng giấy carton, màu xám dán kín niêm phong lại bên trên có dán giấy niêm phong có đóng dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và các chữ ký ghi họ tên của Hồ Nguyễn T5 (Điều tra viên); Lê Hữu Đ1 (Cán bộ lập biên bản); chữ ký ghi họ tên ông Phan Bá T và bà Phan Thị Thiên A (Người có đồ vật tài liệu bị niêm phong) bên trong có chứa: 07 (bảy) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT, 50 (năm mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, 70 (bảy mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu NELSON, 02 (hai) bao nhựa màu trắng, dùng để đựng thuốc lá, 01 (một) bao nhựa màu vàng dùng để đựng thuốc lá.
- - Thùng giấy carton, màu xám dán kín niêm phong lại bên trên có dán giấy niêm phong có đóng dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và các chữ ký ghi họ tên của Hồ Nguyễn T5 (Điều tra viên); Lê Hữu Đ1 (Cán bộ lập biên bản); chữ ký ghi họ tên ông Phan Bá T (Người có đồ vật tài liệu bị niêm phong) bên trong có chứa: 510 (năm trăm mười) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu NELSON, 150 (một trăm năm mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET 01 (một) bao nhựa màu đỏ, dùng để đựng thuốc lá, 03 (một) bao nhựa màu trắng, dùng để đựng thuốc lá, 02 (hai) túi nilon màu đen, loại có quai xách, dùng để đựng thuốc lá.
- - Thùng giấy carton màu cam dán kín niêm phong lại bên trên có dán giấy niêm phong có đóng dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và các chữ ký ghi họ tên của Hồ Nguyễn T5 (Điều tra viên); Lê Hữu Đ1 (Cán bộ lập biên bản); chữ ký ghi họ tên bà Nguyễn Thị Ánh T2 (Người có đồ vật tài liệu bị niêm phong) bên trong có chứa: 260 (hai trăm sáu mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO
- - Thùng giấy carton màu xám dán kín niêm phong lại bên trên có dán giấy niêm phong có đóng dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và các chữ ký ghi họ tên của Hồ Nguyễn T5 (Điều tra viên); Lê Hữu Đ1 (Cán bộ lập biên bản); chữ ký ghi họ tên bà Nguyễn Thị Ánh T2 (Người có đồ vật tài liệu bị niêm phong) bên trong có chứa: 290 (hai trăm chín mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, 02 (Hai) túi nilon màu đen, loại có quai xách, dùng để đựng thuốc lá.
- - Thùng giấy carton màu xám dán kín niêm phong lại bên trên có dán giấy niêm phong có đóng dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và các chữ ký ghi họ tên của Hồ Nguyễn T5 (Điều tra viên); Lê Hữu Đ1 (Cán bộ lập biên bản); chữ ký ghi họ tên bà Nguyễn Thị Ánh T2 (Người có đồ vật tài liệu bị niêm phong) bên trong có chứa: 900 (chín trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu NELSON, 01 (một) bao nhựa màu đỏ, dùng để đụng thuốc lá, 06 (sáu) túi nilon màu đen, loại có quai xách, dùng để đựng thuốc lá.
- - Thùng giấy carton màu xám dán kín niêm phong lại bên trên có dán giấy niêm phong có đóng dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và các chữ ký ghi họ tên của Hồ Nguyễn T5 (Điều tra viên); Lê Hữu Đ1 (Cán bộ lập biên bản); chữ ký ghi họ tên bà Nguyễn Thị Ánh T2 (Người có đồ vật tài liệu bị niêm phong) bên trong có chứa: 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET; 01 (một) bao nhựa màu trắng, dùng để đụng thuốc lá, 02 (hai) túi nilon màu đen, loại có quai xách, dùng để đựng thuốc lá.
- - Thùng giấy carton màu xám dán kín niêm phong lại bên trên có dán giấy niêm phong có đóng dấu tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và các chữ ký ghi họ tên của Hồ Nguyễn T5 (Điều tra viên); Lê Hữu Đ1 (Cán bộ lập biên bản); chữ ký ghi họ tên bà Nguyễn Thị Ánh T2 (Người có đồ vật tài liệu bị niêm phong) bên trong có chứa: 160 (một trăm sáu mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT, 01 (một) túi nilon màu đen, loại có quai xách, dùng để đựng thuốc lá.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô biển số 67M1-313.22, nhãn hiệu: Honda, loại Wave RSX, màu trắng xám, số máy: JA32E1132199, số khung: 3201EY059423; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, M: Galaxy A21s, số IMEI 1: 351662610072623 và số IMEI 2: 352465210072624, trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim và 01 thẻ nhớ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, model: Galaxy J3 Pro, số IMEI 1: 354814093439962 và số IMEI 2: 354815093439969, trong điện thoại có gắn 01 thẻ sim và 01 thẻ nhớ (tất cả đã qua sử dụng).
(Đặc điểm tang vật theo như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Phan Bá T, Phan Thị Thiên A và Nguyễn Thị Ánh T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Nguyễn Thị Ánh T2)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang về hình sự (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Bá T và đồng phạm phạm tôi Bôn bán hàng cấm
