|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HS-ST Ngày: 22-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Hải
- Ông Dương Đức Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Văn C, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1992 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi thường trú: thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Quốc T và bà Nguyễn Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
- Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1983; địa chỉ: tổ dân phố H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1990; địa chỉ: tổ dân phố H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 20 phút ngày 21/12/2023, tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông, Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực Km 7+600 đường G đi Y thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Nông Văn C có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình tiến hành kiểm tra, C tự giao nộp từ trong bàn tay phải cho tổ công tác 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi ni lông có chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục. Theo C khai số chất rắn dạng cục màu trắng đục là ma túy loại Heroine của C mua về để sử dụng. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C, niêm phong vật chứng thu giữ rồi bàn giao đối tượng, hồ sơ cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng toàn bộ số chất rắn dạng cục màu trắng đục thu giữ của Nông Văn C được 0,309 gam, cho toàn bộ số chất rắn màu trắng vào phong bì ký hiệu K gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất rắn dạng cục màu trắng đục trong bì niêm phong ký hiệu K gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng là: 0,309 gam.
Quá trình điều tra, Nông Văn C khai nhận: Chức bắt đầu sử dụng ma túy cách đây khoảng 06 tháng. Sáng ngày 21/12/2023, C đi bộ từ phòng trọ của C ở tổ dân phố T, phường B, thành phố P ra khu vực đường gom Khu công nghiệp T, thành phố P rồi đứng ở rìa đường với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi C đứng ở rìa đường được khoảng 30 phút thì có 01 người phụ nữ điều khiển xe mô tô (C không biết nhân thân, lai lịch của người này) đi đến vị trí C đang đứng rồi dừng lại, sau đó người phụ nữ đưa cho C 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi ni lông có chứa ma túy loại Heroine. C cầm túi ni lông chứa ma túy ở tay phải rồi lấy số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) trả cho người phụ nữ, người phụ nữ cầm tiền của C rồi rời đi. Sau khi mua được ma túy, C chuẩn bị đi về phòng trọ để sử dụng số ma túy vừa mua được thì bị Cơ quan Công an phát hiện. Mục đích C mua ma túy là để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong chứa 0,291 gam Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu lưu kho, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSPY ngày 01/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nông Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nông Văn C từ 18 đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng là ma tuý và vỏ bao mẫu kèm theo còn lại sau giám định và vỏ bao gói kèm theo.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm có cơ hội được trở về hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 21/12/2023, tại khu vực đường G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Nông Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,309 gam ma túy loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an thành phố P bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 56/CT-VKSPY ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
- Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, Hội đồng xét xử nhận định bị cáo là người có nhân thân tốt.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội là cụ Nông Văn C1 là liệt sĩ, người có công với đất nước, được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương như Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến thắng hạng ba, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất... nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo là người có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, có ông nội là người có công, được nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương. Xét thấy, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là nặng so với tính chất, mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo. Khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức án phù hợp.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, phạm tội không có mục đích mua bán trục lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Toàn bộ số ma tuý của bị cáo bị thu giữ và vỏ bao mẫu kèm theo là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí và chi phí tố tụng: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Nông Văn C, theo C khai mua của một người phụ nữ tại khu vực đường gom Khu công nghiệp T, phường H, thành phố P. C không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người phụ nữ này, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố:
1. Về tội danh: Bị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt:
2.1. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nông Văn C 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2023.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
2.2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong màu có dấu đỏ ký hiệu K ghi hoàn trả 0,291 gam mẫu K còn lại sau giám định và vỏ bao gói;
- 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2024 giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên).
4. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nông Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Xuân Lộc |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ
