|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2025/DS-PT Ngày: 09 - 4 - 2025 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
Các Thẩm phán: Bà Đào Nữ Ngọc Lan; bà Phan Thị Minh Tâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Trần Huyền Trân - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 389/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp dân sự QSD đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh An Giang bị kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 396/2024/QĐXXPT-DS ngày 05/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 420/2024/QĐPT-DS ngày 25/12/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 15 /2025/QĐ-PT ngày 21/01/2025, Thông báo mở lại phiên tòa số: 17/TB-TA ngày 27/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa: 81/2025/QĐ-PT ngày 14/3/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Mai Văn L, sinh năm 1961 và bà Dương Thị Thu T, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: tổ 5, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (ông L, bà T có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền cho ông Mai Văn L là ông Phan Văn B, sinh năm 1970, cư trú tại: ấp M, xã M1, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy ủy quyền lập ngày 11/12/2024 (có mặt).
Bị đơn: Ông Phan Công C, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1949; cùng địa chỉ: tổ 4, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (ông C, bà T1 có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày và yêu cầu:
Vào năm 2020 vợ chồng ông Phan Công C và bà Nguyễn Thị T1 thỏa thuận miệng chuyển nhượng bằng giấy tay cho ông L, bà T diện tích đất ngang 4m7 x dài 22,04m =103,588m², với giá 250.000.000 đồng, đất tọa lạc tại tổ 4, khóm V, phường C, thành phố C thuộc diện tích đất 198,3m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số DA803256 (số vào sổ cấp GCN: CS10880) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 đứng tên ngày 19/01/2021. Diện tích đất nhận chuyển nhượng nêu trên ông, bà được cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất số BD 126060 diện tích 101,8m² (số vào sổ cấp GCN: CS10937) do ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T đứng tên ngày 31/3/2021. Do ông C, bà T1 bị đơn giao thiếu đất, không đúng diện tích đất như thỏa thuận khi chuyển nhượng, nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu như sau:
- Đối với diện tích đất giao thiếu: Theo thỏa thuận mua bán đất (giấy tay) là 4,7m x 22,04m = 103,588m², thực tế nhận đất là 101,8 m² (theo giấy chứng nhận QSD đất được cấp số DB 126060 ngày 31/3/2021 do Mai Văn L, Dương Thị Thu T đúng tên), chênh lệch đất bị thiếu là 1,788m² x 1.500.000 đồng/m² = 2.682.000 đồng nên yêu cầu ông C, bà T1 hoàn lại giá trị đất chênh lệch số tiền là 2.682.000 đồng/1,788m².
- Đối với phần đất bị đơn lấn chiếm và các vật kiến trúc trên đất nằm thuộc giấy chứng nhận QSD đất của ông L, bà T đứng tên (theo bản trích đo hiện trạng đất ngày 29/7/2022) thì yêu cầu ông C, bà T1 tháo dỡ, di dời trả lại diện tích đất lấn chiếm thuộc giấy chứng nhận QSD đất của chúng tôi đứng tên (diện tích đất lấn chiếm cụ thể theo bản trích đo hiện trạng đất ngày 29/7/2022 diện tích là 7,6m²).
- Đối với chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá khi giải quyết vụ án tổng cộng 4.300.000 đồng (Hợp đồng đo đạc 3.100.000 đồng; chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá 1.200.000 đồng) nguyên đơn đã đóng tạm ứng: Nếu ông C, bà T1 đồng ý tháo dỡ, di dời vật kiến trúc trên đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn đứng tên thì chúng tôi đồng ý chịu ½ tiền chi phí đo đạc, định giá là 2.150.000 đồng. Nếu ông C, bà T1 không đồng ý tháo dỡ, di dời vật kiến trúc trên đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tôi thì chúng tôi yêu cầu ông C, bà T1 phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định, định giá.
- Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu trả số tiền 14.500.000 đồng chuyển nhượng đất do vợ chồng chúng tôi chưa trả đủ cho ông C, bà T1, thì chúng tôi (L, T) đồng ý trả cho ông C, bà T1 14.500.000 đồng.
- Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Trong quá trình tố tụng bị đơn ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
3
Vợ chồng ông, bà có chuyển nhượng một phần đất trống diện tích đất 103,588m² (ngang 4,7m x dài 22,04m) cho vợ chồng ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T với giá 250.000.000 đồng theo tờ mua bán đất giấy tay, diện tích đất chuyển nhượng thuộc diện tích đất 198,3m² theo giấy chứng nhận QSD đất và tài sản gắn liền với đất số DA803256 (số vào sổ cấp GCN: CS10880) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho Phan Công C, Nguyễn Thị T1 đứng tên ngày 19/01/2021, khi thỏa thuận chuyển nhượng đất là phần đất trống chỉ nhắm chừng diện tích nên ghi vào tờ mua bán giấy tay không đo thực tế, khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì thống nhất diện tích, không có đo đạc thực tế đất. Nay vợ chồng chúng tôi Chánh và T1 cầu phản tố đó là:
- Yêu cầu ông L, bả T trả số tiền chuyển nhượng đất còn thiếu là 14.500.000 đồng cho bị đơn.
- Đối với diện tích đất giao thiếu đất: Theo thỏa thuận mua bán đất (giấy tay) là 4,7m x 22,04m = 103,588m², thực tế nhận đất là 101,8m² (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp số DB 126060 ngày 31/3/2021 mang tên Mai Văn L, Dương Thị Thu T), chênh lệch là 1,788m² thì chúng tôi Chánh và The đồng hoàn lại giá trị đất chênh lệch cho ông L, bà T.
- Đối với phần đất lấn chiếm và các vật kiến trúc trên đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L, bà T (theo bản trích đo hiện trạng đất ngày 29/7/2022) thì yêu cầu được giữ nguyên hiện trạng, bị đơn C và T1 sẽ hoàn lại giá trị đất cho nguyên đơn.
- Đối với chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá khi giải quyết vụ án tổng cộng 4. 300.000 đồng (Hợp đồng đo đạc 3.100.000 đồng; chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá 1.200.000 đồng) đồng ý chịu ½ tiền chi phí đo đạc, định giá là 2.150.000 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
Căn cứ các Điều 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 164, 166, 175 và 176 Bộ Luật Dân sự 2015; các Điều 147, 157 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T về việc yêu cầu bị đơn ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 hoàn trả giá trị diện tích đất bị thiếu theo hợp đồng chuyển nhượng số tiền 2.682.000 đồng và chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 7,6 m² (trị giá: 18.346.000 đồng).
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 về việc yêu cầu nguyên đơn ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T trả tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn nợ là 14.500.000 đồng.
4
- Buộc ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 có trách nhiệm trả cho ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T giá trị quyền sử dụng đất (diện tích: 1,788 m² + 7,6 m²) số tiền 6.528.000 đồng.
- Ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 được quyền sử dụng các diện tích đất: 1,4 m² giới hạn tại các đểm 10, 43, 44, 14, 13; 3,0 m² giới hạn tại các điểm 14, 44, 16, 46; 3,2 m² giới hạn tại các điểm 7, 34, 44, 14 (theo Bản gốc trích đo hiện trạng ngày 29/7/2022 của Công ty TNHH Đ).
- Ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T và ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để kê khai đăng ký, chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Chi phí tố tụng: Ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 có trách nhiệm hoàn trả cho ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T 3.400.000 đồng (chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Dương Thị Thu T phải chịu 362.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tạm ứng án phí ông L, bà T đã nộp là 975.000 đồng theo các biên lai thu số 0001786, 0001785, 0002092 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Ông L, bà T được nhận lại phần chênh lệch là 612.500 đồng. Tòa sơ thẩm còn tuyên quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.
Tòa sơ thẩm tuyên án ngày 27/8/2024, ngày 29/8/2024 nguyên đơn ông L, bà T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, bị đơn ông C, bà T1 không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị bản án sơ thẩm.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa, ông B đại diện hợp pháp cho ông L, bà T xác định nội dung kháng cáo đó là ông L, bà T không đồng ý nhận giá trị đất (diện tích: 1,788m² + 7,6m²) số tiền 6.528.000 đồng, yêu cầu ông C, bà T1 tháo dỡ phần mái che diện tích 1,4 m² + phần sân nhà bó nền diện tích 3,2 m² + phần căn nhà gỗ diện tích 3,0 m² tổng diện tích đất là 7,6m² thuộc giấy chuứng nhận QSD đất ông L, bà T đứng tên, để giao trả cho ông L, bà T diện tích đất 7,6m² theo Bản gốc trích đo hiện trạng ngày 29/7/2022, ngoài ra không kháng cáo các nội dung khác của bản án sơ thẩm.
Theo đó, ông L, bà T thừa nhận, khi nhận chuyển nhượng diện tích đất 103,588m² (nhận đất là 101,8m²) của ông C, bà T1 năm 2020 là phần đất trống nằm bên hông nhà ông C, bà T1 thì hai bên không đo đạc đất tại thực địa để xác định vị trí đất chuyển nhượng, nên khi tách bộ sang tên ông L, bà T chỉ được cấp diện tích đất là 101,8m²/103,588m²; (giảm 1,788 m²), phần đất nền nhà, sân nhà ở của ông C, bà T1 đang sử dụng có diện tích đất 7,6m² nằm trong QSD đất diện tích 101,8m² do ông L, bà T đứng tên, nên yêu cầu tòa án xem xét buộc ông C, bà T1 tháo dỡ giao trả diện tích đất 7,6m² cho chúng tôi, ngoài ra không yêu cầu gì khác, ông L, bà T đồng ý theo nội dung ông B trình bày và yêu cầu.
5
Tại phiên tòa, ông C bà T1 cho rằng, nếu tháo dỡ phần mái che diện tích 1,4 m² + phần bó nền diện tích 3,2 m² + phần căn nhà gỗ diện tích 3,0 m² tổng diện tích theo bản vẽ 7,6m² của gia đình ông, bà đang sử dụng để giao trả cho ông L bà T diện tích đất 7,6m² thì gây thiệt hại rất lớn đến cấu trúc tổng thể phần sân nhà xây bó nền gắn kết với căn nhà của vợ chồng ông, bà, nên đề nghị Tòa phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, những người tham gia tố tụng trong vụ án thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng năm 2015.
- Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án, kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa phúc thẩm xem xét thẩm định lại tại hiện trạng nhà, đất đang tranh chấp ngày 13/02/2025 thì thấy; phần mái che diện tích 1,4 m² căn nhà, phần sân nhà bó nền bê tông cốt thép diện tích 3,2 m², phần căn nhà gỗ diện tích 3,0 m² tổng diện tích là 7,6m² do gia đình ông C bà T1 đang sử dụng, nếu buộc ông C, bà T1 tháo dỡ vật kiến trúc, khung nhà trả diện tích 7,6m² cho ông L, bà T thì gây thiệt hại rất lớn về tài sản nhà ở đối với phần bê tông cốt thép xây bó nền liên kết với căn nhà của ông C bà T1 đang sử dụng, án sơ thẩm buộc Chánh bà T1 trả giá trị đất đối với diện tích đất 7,6m² cho ông L bà T là hợp lý, đúng pháp luật, nên đề nghị Tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông L bà T, y án sơ thẩm, buộc ông L bà T chịu án phí phúc thẩm, chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, phát biểu đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng:
- [1.1] Tòa sơ thẩm tuyên án ngày 27/8/2024, ngày 29/8/2024 nguyên đơn ông L (ông L đối tượng người cao tuổi không phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm) bà T kháng cáo và nộp án phí đúng quy định, nên nội dung kháng cáo của ông L bà T được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- [1.2] Tại phiên tòa, ông B đại diện hợp pháp cho ông L, bà T xác định nội dung kháng cáo đó là ông L, bà T không đồng ý nhận giá trị đất (diện tích: 1,788 m² + 7,6 m²) số tiền 6.528.000 đồng, yêu cầu ông C bà T1 tháo dỡ phần mái che diện tích 1,4 m² + phần bó nền diện tích 3,2 m² + phần căn nhà gỗ diện tích 3,0 m² tổng diện tích 7,6 m² để giao trả đất diện tích 7,6 m² cho ông L bà T sử dụng, ngoài ra không kháng cáo các nội dung khác của bản án sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét nội dung kháng cáo nêu trên của ông L, bà T theo quy định,
6
các nội dung khác của bản án sơ thẩm đã tuyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.
- [2] Về nội dung:
- [2.1] Xét nội dung ông L, bà T kháng cáo không đồng ý nhận giá trị đất (diện tích: 1,788 m² + 7,6 m²), yêu cầu ông C bà T1 tháo dỡ phần mái che diện tích 1,4 m² + phần bó nền diện tích 3,2 m² + phần căn nhà gỗ diện tích 3,0 m² để giao trả đất cho ông L bà T diện tích đất 7,6m² thì thấy,
Chứng cứ tại vụ án thể hiện, diện tích đất 7,6m² do gia đình ông C bà T1 đang sử dụng là phần sân nhà của ông bà xây dựng bê tông cốt thép xây nền, phần mái che gắn liền căn nhà sàn gỗ nống đá và bê tông liên kết không tách rời nhau (như biên bản thẩm định tại chỗ ngày 13/02/2025 do tòa phúc thẩm đến thực địa nhà, đất thẩm tra), thực tế cấu trúc căn nhà của ông C, bà T1 không thay đổi hiện trạng do ông C bà T1 xây dựng và sử dụng trước năm 2020. Đến năm 2020, ông C, bà T1 chuyển nhượng (giấy tay) cho ông L, bà T diện tích đất theo thỏa thuận là 103,588m² (ngang 4m7 x dài 22,40m) là phần đất trống nằm cạnh căn nhà ông C bà T1, giá chuyển nhượng là 250.000.000 đồng nằm trong diện tích đất 198,3m² thuộc giấy QSD đất và tài sản gắn liền với đất số DA803256 (số vào sổ cấp GCN: CS10880) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông C, bà T1 đứng tên ngày 19/01/2021, khi chuyển nhượng diện tích đất 103,588m² ông C, bà T1 với ông L, bà T không đo đạc thực tế tại thực địa, không xác định vị trí đất chuyển nhượng để tách thửa (đúng như ông L, bà T thừa nhận tại phiên tòa phúc thẩm), khi sang tên chuyển quyền sử dụng đất UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 126060 diện tích 101,8m² (số vào sổ cấp GCN: CS10937) cho ông L, bà T đứng tên ngày 31/3/2021 (diện tích cấp giấy cho ông L bà T diện tích 101,8m² so với diện tích thỏa thuận chuyển nhượng 103,588m² giảm 1,788m²) không đúng diện tích đất 103,588m² như thỏa thuận khi chuyển nhượng là lỗi của ông L, bà T và ông C, bà T1 vì không đo đạc thực tế tại thực địa đất chuyển nhượng, không xác định vị trí đất chuyển nhượng để tách thửa chuyển quyền sử dụng đất.
- [2.2] Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm ông C, bà T1, ông L do ông B đại diện xác định đất chuyển nhượng là phần đất trống cặp vách căn nhà của bị đơn ông C, bà T1, căn cứ Bản gốc trích đo hiện trạng khu đất tranh chấp do Công ty TNHH Đ lập ngày 29/7/2022 thể hiện phần mái che diện tích 1,4 m² + phần sân nhà xây bó nền diện tích 3,2 m² + phần căn nhà gỗ diện tích 3,0 m² tổng diện tích đất 7,6m² có cấu trúc bê tông cốt thép xây cuốn nền, phần mái che và phần căn nhà gỗ của ông C, bà T1 liên kết không tách rời nhau, tổng diện tích đất 7,6m² nằm trong diện tích đất 101,8m² do UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L, bà T đứng tên ngày 31/3/2021, nếu buộc ông C, bà T1 tháo dỡ phần mái che diện tích 1,4 m² + phần sân nhà xây bó nền diện tích 3,2 m² + một phần căn nhà gỗ diện tích 3,0 m² tổng diện tích đất 7,6m² để giao trả cho ông L, bà T diện tích đất 7,6m² thì thiệt hại rất lớn về tài sản của ông C, bà T1. Do đó, cấp sơ thẩm tuyên xử cho ông C bà T1 được sử dụng diện tích: 1,788 m² + 7,6 m², buộc ông C, bà
7
T1 trả giá trị đất (diện tích: 1,788 m² + 7,6 m²) số tiền 6.528.000 đồng cho ông L, bà T là có căn cứ.
- [2.3] Ông L, bà T kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng mới có giá trị chứng minh, nên không chấp nhận kháng cáo của ông L, bà T, giữ nguyên án sơ thẩm như Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ đúng pháp phát luật, kháng cáo của ông L, bà T không được chấp nhận, nên bà T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định, ông L không phải chịu phí phúc thẩm (ông L đối tượng người cao tuổi), ông L, bà T phải chịu chi phí tố tụng tại xem xét thẩm định nhà, đất tranh chấp tại cấp phúc thẩm (ông B đại diện cho ông L đã nộp đủ).
- [3] Các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm đã tuyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị do pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Phúc xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Mai Văn L và bà Dương Thị Thu T.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Căn cứ các Điều 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 164, 166, 175 và 176 Bộ Luật Dân sự 2015; các Điều 147, 157 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T về việc yêu cầu bị đơn ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 hoàn trả giá trị diện tích đất bị thiếu theo hợp đồng chuyển nhượng số tiền 2.682.000 đồng và chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 7,6 m² (trị giá: 18.346.000 đồng).
- [2] Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 về việc yêu cầu nguyên đơn ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T trả tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn nợ là 14.500.000 đồng.
Buộc ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 có trách nhiệm trả cho ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T giá trị quyền sử dụng đất (diện tích 1,788 m² + 7,6 m²) số tiền 6.528.000 đồng.
8
- Ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 được quyền sử dụng các diện tích đất: 1,4m² giới hạn tại các đểm 10, 43, 44, 14,13; 3,0m² giới hạn tại các điểm 14, 44, 16, 46; 3,2m² giới hạn tại các điểm 7, 34, 44, 14 (theo Bản gốc trích đo hiện trạng ngày 29/7/2022 của Công ty TNHH Đ).
- Ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T và ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để kê khai đăng ký, chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- [3] Chi phí tố tụng: Ông Phan Công C, bà Nguyễn Thị T1 có trách nhiệm hoàn trả cho ông Mai Văn L, bà Dương Thị Thu T 3.400.000 đồng (chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá).
- [4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Dương Thị Thu T phải chịu 362.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tạm ứng án phí ông L, bà T đã nộp là 975.000 đồng theo các biên lai thu số 0001786, 0001785, 0002092 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
Ông L, bà T được nhận lại phần chênh lệch là 612.500 đồng.
- [5] Về án phí dân sự phúc thẩm và chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm:
- Ông Mai Văn L không phải chịu án phí phúc thẩm (đối tượng người cao tuổi).
- Bà Dương Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí thẩm do bà T nộp theo biên lai thu số 0003968 ngày 04/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Ông Mai Văn L và bà Dương Thị Thu T phải chịu 5.000.000 đồng chi phí tố tụng (ông B đại diện ông L đã nộp xong).
- [6] Các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm đã tuyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị do pháp luật quy định.
- [7] Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho bên được thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- [8] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
9
(Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 29/7/2022 của Công ty TNHH Đ không tách rời bản án này).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
Bản án số 81/2025/DS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 81/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
