Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/3/2025

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, xin ly hôn

và nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hồng;
  2. Bà Lê Bích Loan.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Thanh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 2002; nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt có đơn.

Bị đơn: Ông Bùi Văn N, sinh năm 2000; nơi cư trú: tổ A, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Nguyễn Thị Như Ý trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của vợ chồng ông bà là tự tìm hiểu, yêu thương nhau được cha mẹ hai bên đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới, thực hiện đăng ký kết hôn vào ngày 08/5/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2023, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, ông N không chí thú làm ăn mà tụ tập bạn bè ăn chơi rồi sinh ra nợ nần, nhiều lần bà phải trả thay. Khi bà lên tiếng khuyên ngăn thì vợ chồng xảy ra tranh cãi, nhận thấy không còn tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đến mức trầm trọng nên bà và ông N có nói chuyện thống nhất sẽ ly thân để xem xét lại tình cảm.

Trong thời gian vợ chồng ly thân đến nay, ông N không liên hệ hàn gắn, không liên lạc, tới lui chăm sóc con nhỏ, hai bên gia đình bỏ mặt để ông bà tự giải quyết với nhau. Nay bà nhận thấy không thể hàn gắn, có quay về chung sống cũng không còn hạnh phúc nên quyết định nộp đơn xin ly hôn với ông N.

Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống ông bà sinh được một người con chung tên Bùi Nguyễn Gia H, sinh ngày 10/7/2020, bà Ý đồng ý tiếp tục nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà yêu cầu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử do bà kiên quyết ly hôn, không còn tình cảm với ông N.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông N theo quy định nhưng ông N vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của bà Ý và ông N để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:

Về nơi cư trú: Theo Biên bản xác minh của Công an xã N ngày 18/02/2025 xác định ông N vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ tổ A, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà Ý vắng mặt có đơn; riêng ông N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông bà theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng... là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu càu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Ý chung sống với ông N đến năm 2024 thì không còn hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông N hiện đang cư trú tại xã N, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, An Giang.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Như Ý, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Về hôn nhân: Bà Ý và ông N tiến đến hôn nhân là do tự tìm hiểu, yêu thương nhau, được hai bên gia đình đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N vào năm 2020 nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Mặc dù Tòa án đã động viên và hòa giải nhưng bà Ý vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông N. Tại phiên hòa giải, bà Ý yêu cầu không tiến hành hòa giải do không còn tình cảm và tại phiên tòa hôm nay, bà Ý vắng mặt đã thể hiện việc không thể quay lại chung sống với ông N. Hội đồng xét xử xét thấy giữa ông C và bà G có thời gian ly thân từ đầu năm 2024 đến nay nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, bỏ mặt tình cảm vợ chồng, gia đình hai bên không can thiệp đã cho thấy mâu thuẫn của ông bà đã trầm trọng không thể hàn gắn được, đều này phù hợp với kết quả xác minh ngày 11/02/2025 của Tòa án về tình trạng hôn nhân của ông bà.

Trong quá trình tố tụng, ông N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và đã biết nội dung vụ án; ngoài ra, ông cũng đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia các phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng ông đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ mà phía bà Ý cung cấp. Do đó, căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy việc bà Ý trình bày là có cơ sở nên Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn giữa bà Ý và ông N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà Ý là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Bùi Nguyễn Gia H, sinh ngày 10/7/2020, hiện nay con chung đang sống chung với bà Ý. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn bà Ý đồng ý tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, con chung hiện chưa đủ 36 tháng tuổi, được bà Ý cùng gia đình chăm sóc từ nhỏ cho đến nay, phát triển tốt, việc thay đổi chỗ ở, hoàn cảnh sống đột ngột sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát của cháu sau này. Do đó, việc tiếp tục giao con chung cho bà Ý nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh sống và quy định của pháp luật.

[3.3] Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà Ý không yêu cầu ông N cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của bà.

Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Bà Ý cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Ý không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Xét phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Bà Ý là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Như Ý.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Như Ý được ly hôn với ông Bùi Văn N.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Như Ý được tiếp tục nuôi cháu Bùi Nguyễn Gia H, sinh ngày 10/7/2020. Công nhận sự tự nguyện của bà Ý không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Bà Ý cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Như Ý phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010256 ngày 15/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú. Bà Ý đã nộp đủ. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/3/2025), các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - TAND tỉnh AG (1);
  • - VKS tỉnh AG (1);
  • - VKS huyện AP (2);
  • - THADS huyện AP (1);
  • - UBND xã nơi ĐKKH (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu VP (1);
  • - Lưu HS (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thảo Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Y xin ly hôn với ông N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger