Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05 – 12 – 2024

V/v “Ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Viết Xứng

2. Ông Vũ Trung Thành

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú: Bà Hà Thị Hải Lý – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 315/2024/TLST-HNGĐ ngày 04/10/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04/11/2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số 10/TB-TA ngày 26/11/2024 của TAND huyện Đồng Phú giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1976 “Có yêu cầu vắng mặt”.

- Bị đơn: Ông Lê Hoàng T1, sinh năm 1975 “Có mặt”.

Cùng địa chỉ: Đ, ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Vũ Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Lê Hoàng T1 chung sống cùng nhau vào năm 1995 đến năm 2002 vợ chồng đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông T1 không chăm lo cho gia đình và thường xuyên đánh đập vợ, 2 bên đã nhiều lần hàn gắn nhưng mối quan hệ không khắc phục được, hiện nay vợ chồng cũng không còn chung sống cùng nhau. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng T1.

- Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông T1 có 03 con chung tên Lê Thị Thủy T2, sinh năm 1995, Lê Hoàng H, sinh năm 1997 và Lê Thị Cẩm S, sinh năm 2003. Khi ly hôn, bà T không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung do các con chung đã thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn ông Lê Hoàng T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông T1 và bà T tự nguyện tìm hiểu và chung sống cùng nhau vào năm 1995, đến năm 2002 vợ chồng mới đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mỗi lần vợ chồng cãi nhau là bà T bỏ đi, có đôi lúc tức giận ông T1 có đánh bà T. Hiện nay, ông T1 và bà T không còn chung sống cùng nhau nữa, ông T1 nhiều lần liên hệ bà T về để vợ chồng đoàn tụ nhưng bà T không hợp tác. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông T1 không đồng ý vì tình cảm vợ chồng vẫn còn, ông T1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Bà T và ông T1 có 03 con chung tên Lê Thị Thủy T2, sinh năm 1995, Lê Hoàng H, sinh năm 1997 và Lê Thị Cẩm S, sinh năm 2003. Trường hợp Toà án cho ly hôn, ông T1 không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung do các con chung đã thành niên.

- Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng tạo lập được 2 thửa đất rẫy ở xã T, huyện Đ được cấp GCNQSDĐ, 1 thửa đứng tên Lê Hoàng T1, 1 thửa đứng tên Vũ Thị T và 01 thửa đất diện tích khoảng 5,5m x 50m, đã được cấp GCNQSDĐ khoảng năm 2023 đứng tên Vũ Thị T, trên đất có 01 căn nhà cấp 4 xây khoảng năm 2003. Quá trình giải quyết vụ án, ông T1 không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản chung, tuy nhiên tại phiên toà ông T1 đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà T có nghĩa vụ giao toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản chung cho ông T1. Ngoài ra, ông T1 không có yêu cầu gì thêm.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà, các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên toà, áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị T, cho bà T được ly hôn với ông T1; Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Bà Vũ Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng T1, ông T1 hiện cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn Vũ Thị T vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên bà T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước vào năm 2002, do đó hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình chung sống, bà T xác định vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống, ông T1 không chăm lo cho gia đình và thường xuyên đánh đập vợ. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông T1 không đồng ý ly hôn nhưng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bà T hay bỏ nhà đi, ông T1 có nhiều lần đánh vợ dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt.

Qua xác minh tại địa phương, ấp trưởng cung cấp như sau: Bà T và ông T1 có đăng ký kết hôn và chung sống tại ấp C, xã T từ năm 1995. Vợ chồng bà T chung sống đến thời gian khoảng 01 năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến xô xát, ông T1 có tác động vũ lực với vợ nhiều lần, hiện nay bà T và ông T1 không còn chung sống cùng nhau.

Hội đồng xét xử xét thấy, tuy ông T1 không đồng ý ly hôn nhưng bà T và ông T1 đều thừa nhận hai bên có nhiều mâu thuẫn trong quá trình chung sống, Toà án đã tiến hành hoà giải cho các bên đoàn tụ nhưng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà T không có thiện chí hoà giải và yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, qua xác minh xác định nguyên nhâ ly hôn do nguyên đơn trình bày là có căn cứ, hiện nay bà T và ông T1 không còn chung sống cùng nhau, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đìnhDo đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà T được ly hôn với ông T1.

[2.2] Về con chung: Bà T và ông T1 có 03 con chung tên Lê Thị Thủy T2, sinh năm 1995, Lê Hoàng H, sinh năm 1997 và Lê Thị Cẩm S, sinh năm 2003. Do các con chung đã thành niên, bà T và ông T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T và ông T1 không yêu cầu giải quyết vấn đề tài sản chung. Tại phiên toà, ông T1 yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bà T có nghĩa vụ giao toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản chung cho ông T1; tuy nhiên yêu cầu của ông T1 vi phạm về thời hạn yêu cầu theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu của ông T1 trong vụ án này. Ông T1 có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề tài sản chung của bà T và ông T1 bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[2.4] Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Vũ Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[4] Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị T được ly hôn với ông Lê Hoàng T1.

(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 465 ngày 27/12/2002 của UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước).

- Về con chung: Các con chung đã thành niên, đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Bà Vũ Thị T phải chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010531 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Về quyền kháng cáo: Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với nguyên đơn, do vắng mặt tại phiên toà nên thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Đồng Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Phú;
  • - UBND xã Tân Phước, huyện Đồng Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Vũ Thị T yêu cầu ly hôn với ông Lê Hoàng T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger