TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 81/2024/HS-ST Ngày: 15/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Nghĩa.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu và bà Đồng Thị Mây- Giáo viên.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024; Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa tại trụ sở để xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024 đối với bị cáo:
LÒ VĂN TÙNG, sinh năm 2004.
Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lò Văn T, sinh năm 1978; Mẹ: Lò Thị C, sinh năm 1980. Tiền án, tiền sự: Không. Bắt tạm giam từ ngày 05/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện K.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc T1, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H.
* Bị hại: Cháu Lường Thị N, sinh ngày 04/7/2008; người đại diện hợp pháp cho cháu N: Ông Lường Văn K, sinh năm 1987 (là bố đẻ cháu N). Đều trú tại: Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Lê Thị Thu H, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H.
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn V và anh Lường Văn H1.
(Bị cáo, người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa. Bị hại và người đại diện hợp pháp đề nghị xét xử vắng mặt; người làm chứng vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn T2 và cháu Lường Thị N, sinh ngày 04/7/2008 cùng đăng ký thường trú tại bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La (Cháu N hiện đang thuê trọ tại khu dân cư N, phường L, thị xã K, tỉnh Hải Dương) có quan hệ tình cảm yêu đương và đã chia tay nhau vào khoảng tháng 3/2024. Tối ngày 30/6/2024, T2 và N cùng một số người bạn đến dự sinh nhật chị Lường Thị H2, sinh năm 2006 (là bạn cùng bản) thuê trọ ở xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Khoảng 21h cùng ngày, T2 điều khiển xe mô tô biển số 26AE-026.99 chở cháu N ra về, T2 nảy sinh ý định quan hệ tình dục với cháu N nên chở cháu N vào nhà nghỉ G ở thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương. Khi vào nhà nghỉ, T2 gặp chủ nhà nghỉ là ông Nguyễn Văn V thuê phòng; cháu N biết T2 thuê phòng để quan hệ tình dục nhưng vẫn đồng ý và tự nguyện vào phòng 201 với T2. Khoảng 22h cùng ngày, khi cháu N đang ngồi trên giường thì T2 dùng tay đẩy nhẹ cháu N nằm ngửa ra giường, cởi hết quần áo của cháu và tự cởi quần áo của mình. T2 ngồi trên bụng cháu N, dùng miệng hôn vào cổ, vú cháu và dùng tay xoa bóp hai bên vú cháu N. Khoảng 01 phút sau, T2 quỳ trên giường, bê hai bên đùi cháu N đặt lên đùi mình, cho dương vật đã cương cứng vào âm hộ cháu N đút ra, đút vào liên tục nhiều lần; 45 phút sau, cháu N kêu đau bụng nên T2 dừng lại, lúc này T2 chưa xuất tinh. Sau đó cả 02 mặc lại quần áo, T2 chở cháu N về phòng trọ.
Cháu N nói với anh Lường Văn H1 (là anh ruột của N) về việc quan hệ tình dục với T2 tại nhà nghỉ G nên anh H1 bảo cháu N trình báo với cơ quan Công an. Ngày 01/7/2024, cháu N đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K trình báo và giao nộp quần, áo N mặc vào tối ngày 30/6/2024 gồm: 01 áo phông màu trắng; 01 áo lót màu vàng, 01 quần lót màu vàng có họa tiết hình hoa lá nhiều màu sắc và 01 quần bò màu xanh.
Tại bản Kết luận giám định xâm hại tình dục số 12/KL-XHTD ngày 09/7/2024 của Trung tâm pháp y- Sở Y kết luận đối với cháu Lường Thị N: Bộ phận sinh dục ngoài, môi lớn, môi bé, âm hộ, hậu môn không tổn thương; lỗ màng trinh giãn rộng, đường kính lỗ màng trinh 03cm, vết trách cũ vị trí 3 giờ, 6 giờ; trong âm đạo còn ít dịch viêm, không có tổn thương, không thấy hình ảnh xác tinh trùng trên tiêu bản nhuộm soi; tại thời điểm giám định cháu N không có thai, không bị nhiễm HIV; toàn thân không phát hiện dấu vết tổn thương, di chứng. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2024 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần thì không có mục xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra (Không phần trăm).
Tại bản kết luận giám định số 5278/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của V1 - Bộ C1 kết luận: Trên các mẫu vật (quần, áo nêu trên) ghi do Lường Thị N giao nộp đều không có tinh trùng người. H3 lại: 01 chiếc áo phông màu trắng, 01 chiếc áo lót màu vàng, 01 chiếc áo lót màu vàng có họa tiết hình hoa lá nhiều màu sắc và 01 quần bò màu xanh. Ngày 27/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại cho cháu N.
Tại giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội.
Bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000đ và được bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.
Quá trình điều tra, cháu Lường Thị N khai tối ngày 30/6/2024 là lần đầu tiên cháu quan hệ với Lò Văn T2. Đối với kết luận giám định thể hiện lỗ màng trinh có vết rách cũ vị trí 3 giờ, 6 giờ thì cháu xác định do cháu tự gây ra cách đây mấy năm; trước đó chưa từng quan hệ tình dục với ai khác.
Tại bản Cáo trạng số 74/CT - VKS ngày 04/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố bị cáo Lò Văn T2 về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- * Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Quyết định truy tố tại bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- * Bị hại và người đại diện hợp pháp đề nghị xét xử vắng mặt, xác định: Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Giữa các bên đã tự thỏa thuận xong nên không có yêu cầu đề nghị gì khác.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T2 phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi”.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lò Văn T2 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/9/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Giữa các bên đã tự thỏa thuận xong nên không đặt ra giải quyết. Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- * Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Xác định bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn để xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí đối với bị cáo.
- * Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã đảm bảo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong vụ án này do người bị hại dưới 16 tuổi nên chưa nhận thức được việc bị xâm hại tình dục trái pháp luật; tuy nhiên tại giai đoạn điều tra bị cáo đã thực hiện bồi thường toàn bộ về trách nhiệm dân sự đối với bị hại, tại phiên tòa thành khẩn khai báo và được bị hại cũng như người đại diện hợp pháp xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo tuổi còn trẻ, có nhân thân tốt; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện K; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bảo chữa; bị hại và người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội; lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra, lời khai của bị hại và những người làm chứng. Tất cả những lời khai này đều phù hợp khách quan với những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án.
Đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 30/6/2024, tại phòng số 201 nhà nghỉ G ở thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương; xuất phát từ quan hệ tình cảm và được sự đồng ý của cháu N, Lò Văn T2 đã thực hiện hành vi giao cấu với cháu Lò Thị N1, sinh ngày 04/7/2008 (tính đến thời điểm bị xâm hại, cháu N1 mới 15 tuổi 11 tháng 26 ngày). Do vậy, hành vi của bị cáo Lò Văn T2 đã cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật hình sự.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì dục vọng của bản thân, bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự, sức khỏe, sự an toàn tình dục của trẻ em được pháp luật bảo vệ; làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý, sự phát triển sinh học đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Do vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bồi thường về trách nhiệm dân sự cho bị hại, được bị hại và người đại diện hợp pháp xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: Do hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện không liên quan đến nghề nghiệp, công việc nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 145 của Bộ luật hình sự.
[6] Trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Giữa các bên đã tự thỏa thuận xong về trách nhiệm dân sự; vật chứng đã được cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bị hại nên không đặt ra giải quyết.
[7] Án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- * Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; của Bộ luật hình sự. Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Luật phí, lệ phí. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- * Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T2 phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi"
- * Áp dụng hình phạt chính: Xử phạt Lò Văn T2 15 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/9/2024.
- * Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T2.
- * Quyền kháng cáo: Phiên tòa sơ thẩm xử kín; tuyên án công khai. Có mặt bị cáo, người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị hại, vắng mặt người bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại. Đã báo cho những người có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án; những người vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
* Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chu Văn Nghĩa |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Tùng phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi”
