|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HS-ST |
|
|
Ngày 12-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Quyết
Ông Nguyễn Đình Nha
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà:
Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số 07/TB-TA ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Mai Văn Ú, sinh ngày 30-01-1986 tại Nam Định. Nơi cư trú: Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn L và bà Phạm Thị O; có vợ là Cao Thị N và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24-6-2024 đến nay; có mặt
Bị hại: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1952; nơi cư trú: Thôn F, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng (chết ngày 24-4-2024).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Trịnh Thị M; nơi cư trú: Thôn F, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng (là vợ của bị hại); vắng mặt
- Anh Phạm Văn T1; nơi cư trú: Khu đô thị P, huyện A, thành phố Hải Phòng (là con của bị hại); vắng mặt
- Chị Phạm Thị T2; nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng (là con đẻ của bị hại); vắng mặt
- Anh Phạm Xuân H; nơi cư trú: Khu dân cư H, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng (là con đẻ của bị hại); vắng mặt
- Chị Phạm Thị D; nơi cư trú: Tổ E, C, quận H, thành phố Hải Phòng (là con đẻ của bị hại); vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền của bà M, anh T1, chị T2, chị D: Anh Phạm Xuân H; nơi cư trú: Khu dân cư H, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Hợp tác xã V; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Nam T3, Chủ tịch Hội đồng quản trị - Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn T4; chức vụ: Thành viên Hợp tác xã V; nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định (theo văn bản ủy quyền ngày 25-5-2024); vắng mặt
- Người làm chứng: Ông Trần Văn T4; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 24 tháng 4 năm 2024, Mai Văn Ú (có giấy phép lái xe hạng D, FC do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 15-02-2023, có giá trị đến ngày 15-02-2028) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 18F-004.12 đi trên Quốc lộ A theo hướng từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình. Khi đi đến Km54+100 Quốc lộ A, thuộc địa phận xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng do không giảm tốc độ tại nơi có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm (vạch sơn gờ giảm tốc) nên đã đâm vào xe đạp do ông Phạm Văn T, sinh năm 1952, nơi cư trú: Thôn F, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng điều khiển đi qua đường theo hướng từ bên phải sang bên trái theo chiều đi của Ú. Hậu quả: Ông T bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H1, đến 23 giờ cùng ngày ông T chết.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn thuộc khu vực Km45+500 Quốc lộ A thuộc xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng. Hiện trường xảy ra trước cây xăng dầu Q, ngang điểm mở dải phân cách cố định có bề rộng 24 m, có biển báo đường bộ số kí hiệu I. 409; P.102; I.423b và vạch sơn gờ giảm tốc. Chọn vị trí biển báo “cấm đi ngược chiều” A làm mốc cố định, mép đường chiều Hải Phòng đi Thái Bình làm chuẩn. 1) vị trí xe ô tô khách BKS: 18F-004.12 nằm trên làn đường thứ 3 sát dải phân cách cứng, đầu xe hướng về Thái Bình, đuôi xe hướng về Hải Phòng. T5 bánh xe trục 1 bên phải đến mép đường chuẩn là 7,3 mét; tâm trục 2 bên phải đến mép đường chuẩn là 7,2 mét; tâm bánh xe trục 2 bên trái đến mốc cố định là 2,9 mét và đến chân đầu dải phân cách cứng hướng đi Thái Bình là 28,1 mét. 2) vị trí xe đạp sau khi xảy ra tai nạn nằm ngang trên mặt đường đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng vào điểm mở, đuôi xe hướng vào lề đường chuẩn. Vị trí xe đạp nằm dưới gầm cản trước xe ô tô BKS: 18F-004.12. T5 trục bánh trước của 2 đến mép đường chuẩn là 8,2 mét; tâm trục bánh sau của 2 đến mép đường chuẩn là 7,7 mét, đến vị trí tâm trục 1 bên phải của 1 là 1,6 mét. 3) vị trí vết máu tươi dạng loang nằm trên làn đường thứ 3 sát dải phân cách cứng có kích thước 0,4x0,2 mét, tâm vết máu vào mép đường chuẩn là 7,8 mét đến tâm trục bánh sau vị trí 2 là 2,7 mét. 4) Vết cày xước mặt đường (số A) dài liên tục nằm trên bề mặt làn đường thứ 3 sát dải phân cách cứng dưới gầm cản trước của 1 kích thước dài 2,1 mét, rộng 0,035 mét; đầu vết 4 đến mép đường chuẩn là 7,9 mét, điểm cuối 4 nằm trùng vị trí bàn đạp xe 2 cách mép đường chuẩn 8 mét. 5) Vết cày xước mặt đường (số B) có hình dạng đậm và nhạt dần theo chiều Hải Phòng đi Thái Bình dài 1,9 mét, rộng 0.03 mét, đầu vết 5 đến mép đường chuẩn là 8,4 mét đến đầu vết 4 là 1,9 mét; điểm cuối vết 5 cách mép đường chuẩn là 8,7 mét.
Tại bản kết luận giám định số 1556/KL-KTHS ngày 22/5/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Dấu vết cong vênh, trượt xước kim loại, bề mặt mất sơn màu đen, màu vàng theo chiều từ trước về sau tại tấm biển kiểm soát gắn phía trước xe ô tô BKS: 18F-004.12 (ảnh 5,6,7: Bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết cong vênh, xô lệch, móp méo kim loại, bề mặt bám dính tạp chất màu đen, màu vàng (dạng sơn) theo chiều từ trái sang phải, từ sau về trước tại cung sau chắn bùn bánh xe phía trước trên xe đạp ảnh 12,13,14: Bản ảnh giám định). Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động gần như vuông góc va chạm với nhau”.
Tại bản kết luận giám định tử thi đối với ông Phạm Văn T số 1506/KL-KTHS ngày 16/5/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Cơ chế hình thành thương tích: Do va đập mạnh. Nồng độ cồn, chất kích thích trong máu: Không có. Nguyên nhân chết: Sốc do đa chấn thương. "
Tại bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận:
“- Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát: 18F-004.12 tại thời điểm xảy ra tai nạn là: 5.500.000 đồng.
- Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại của chiếc xe đạp tại thời điểm xảy ra tai nạn là: 90.000 đồng.”
Kết quả xét nghiệm máu đối với Mai Văn Ú xác định âm tính với các chất ma tuý và kết quả kiểm tra nồng độ cồn là: 0.000 mg/l.
Tại Cơ quan điều tra, Mai Văn Ú khai: Ú là nhân viên lái xe của Hợp tác xã V, địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định. Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 24-4-2024, Ú điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Samco biển kiểm soát 18F-004.12 chở khách từ thành phố U, tỉnh Quảng Ninh đến huyện N, tỉnh Nam Định. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, Ú điều khiển xe ô tô đi trên Quốc lộ A, theo hướng từ thành phố Hải Phòng đi tỉnh Thái Bình qua địa phận xã G, huyện V tại làn đường dành cho xe cơ giới, cách dải phân cách giữa đường khoảng 0,5 mét với tốc độ khoảng 50 đến 60 km/h. Lúc này Ú phát hiện phía trước cùng chiều khoảng 30 mét có ông Phạm Văn T điều khiển xe đạp đi trên làn xe thô sơ rồi chuyển hướng đi qua đường theo hướng từ phải sang trái. Ú đạp phanh xe và đánh lái sang trái để tránh nhưng không kịp nên đầu xe bên phải của xe Út va chạm vào bên trái xe đạp do ông T điều khiển. Người ông T đập vào kính phía trước của xe ô tô rồi ngã văng ra lòng đường về phía trước khoảng 2 đến 3 mét. Sau đó mọi người đưa ông T đi cấp cứu tại bệnh viện còn Ú ở lại hiện trường để làm việc với Cơ quan Công an.
Về dân sự: Bị cáo Mai Văn Ú đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu đề nghị gì và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Mai Văn Ú.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 18F-004.12; 01 giấy chứng nhận đăng ký; 01 giấy chứng nhận đăng kiểm; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện; 01 xe đạp màu xanh bạc; 01 giấy phép lái xe mang tên Mai Văn Ú.
Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 24-6-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định khởi tố vụ án; Quyết định khởi tố bị can đối với Mai Văn Ú về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự;
Bản cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 11 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố Mai Văn Ú về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Mai Văn Ú đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố Mai Văn Ú về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Mai Văn Ú phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, xử phạt Ú từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo từ 30 đến 36 tháng, thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết. Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô. Về án phí: Bị cáo Mai Văn Ú phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, phù hợp với kết luận của bản kết luận giám định pháp y và các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Km54+100 Quốc lộ A, thuộc địa phận xã G, thành phố Hải Phòng, Mai Văn Ú (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 18F-004.12 không tuân thủ về tốc độ khi điều khiển phương tiện giao thông, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm (có gờ giảm tốc độ trên mặt đường), vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, khoản 1, 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29-8-2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ nên đã đâm vào xe đạp do ông Phạm Văn T điều khiển, hậu quả làm ông T chết. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mai Văn Ú phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo pháp luật của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Văn Ú không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi do điều khiển xe đạp chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ, theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Vì vậy, để đảm bảo mục đích của hình phạt là răn đe, phòng ngừa tội phạm, đồng thời tạo điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.
[7] Về dân sự: Bị cáo Mai Văn Ú đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 18F-004.12; 01 giấy chứng nhận đăng ký; 01 giấy chứng nhận đăng kiểm; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện; 01 xe đạp màu xanh bạc; 01 giấy phép lái xe mang tên Mai Văn Ú. Qua xác minh xe ô tô biển kiểm soát 18F-004.12 cùng giấy chứng nhận đăng ký, giấy chứng nhận đăng kiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn T4, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T4 là phù hợp. Đối với xe đạp là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho người đại diện hợp pháp của ông T là anh Phạm Xuân H, sinh năm 1979, nơi cư trú: khu dân cư H, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng. Đối với giấy phép lái xe ô tô mang tên Mai Văn Ú là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo quản lý sử dụng.
[9] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Mai Văn Ú phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Mai Văn Ú 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách án treo tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Mai Văn Ú cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Mai Văn Ú có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trại tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Mai Văn Ú.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; trả lại bị cáo Mai Văn Ú 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Mai Văn Ú do Sở G cấp ngày 15-02-2023. Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.
Về án phí: Căn khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử bị cáo Mai Văn Ú phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự đối với bị cáo Mai Văn U
