Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày 12 - 11 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thiện.
Ông Nguyễn Lâm Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Khánh Ly, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Hà Đăng Chương, Kiểm sát viên .

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2024/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hứa Văn H, sinh năm 1999, tại huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn Đ, sinh năm 1973 và bà Trần Thị L, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  2. Trần Văn B, sinh năm 1964, tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T, đã chết và bà Lê Thị T1, sinh năm 1927; vợ: Giáp Thị C và có 03 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trần Thị T2, sinh năm 1994, đã chết.

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

  • + Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
  • + Bà Lương Thị V, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
  • + Anh Hoàng Văn T3, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt.

- Người đại diện theo uỷ quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại (ông Đ1, bà V, anh T3): Anh Trần Văn T4, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
  • + Ông Hứa Văn Đ, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 30/4/2024, Hứa Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 chở chị Trần Thị T2 đang mang thai khoảng 34 tuần, đi trên đường T theo hướng huyện T đi thị xã V. Khi đi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường T với đường tỉnh lộ 398B, thôn A, xã N, huyện T, xe mô tô của H va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 29C-690.91 do Trần Văn B điều khiển đi phía trước cùng chiều đang chuyển hướng rẽ trái. Hậu quả H và chị T2 bị thương, đi cấp cứu tại bệnh viện, đến sáng ngày 01/5/2024 thì chị T2 tử vong. Công an huyện T đã tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Văn B và Hứa Văn H. Kết quả: Nồng đồ cồn trong cơ thể của B là 0.000mg/L, nồng độ cồn của H là 0.482 mg/L, cùng ngày, Công an huyện T tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Trần Văn B, kết quả âm tính với chất ma túy.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hồi 23 giờ 58 phút ngày 30/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành lập biên bản khám nghiệm hiện trường tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường T với đường tỉnh lộ 398B thôn A, xã N, huyện T. Mặt đường trải nhựa bằng phẳng, lòng đường tỉnh lộ 298 vị trí đầu ngã tư hướng huyện T đi thị xã V rộng 15,05m; lòng đường tỉnh lộ 398B hướng Việt Lập đi N rộng 14m. Bốn góc ngã tư có đèn tín hiệu giao thông màu vàng đang nhấp nháy, vạch sơn dừng đèn đỏ và vạch sơn cho người đi bộ qua đường. Quá trình khám nghiệm lấy mép đường bên trái đường tỉnh lộ 298 theo hướng huyện T đi thị xã V làm chuẩn, xác định cột đèn chiếu sáng số 16A/T3 trên lề đường bên phải đường tỉnh lộ 398B hướng N đi V làm mốc.

Tại hiện trường phát hiện:

  • Dấu vết cày xước mặt đường, dạng không liên tục, ký hiệu (1), chiều hướng huyện T đi thị xã V, kích thước (9,75x0,8)m. Điểm đầu vết cách mép đường làm chuẩn 2,2m, cách điểm mốc 28m về hướng xã N. Điểm cuối vết nằm trên đường T, cách mép đường làm chuẩn 3,14m, trùng với để chân trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23.
  • Xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 đổ nghiêng trái trên đường T, ký hiệu (2). Đầu xe quay hướng xã V, đuôi xe quay hướng xã N. Trục bánh trước xe cách mép đường làm chuẩn 3,83m và cách điểm đầu vết (1) 10,2m về hướng thị xã V. Trục bánh sau xe cách mép đường làm chuẩn 2,6m và cách điểm đầu vết (1) 9,37m.
  • Dấu vết máu trên mặt đường, ký hiệu (3), kích thước (0,13 x 0,12)m, tâm vết cách mép đường làm chuẩn 3,04m, cách trục trước xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 là 0,4m.
  • Dấu vết máu trên mặt đường, ký hiệu (4), kích thước (1,1 x 0,4)m, tâm vết cách mép đường làm chuẩn 5,8m, cách điểm đầu vết (1) 10,9m về hướng xã V, cách trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 là 2,13m.
  • Xe ô tô biển kiểm soát 29C-690.91 đỗ bên phải đường tỉnh lộ 398B theo hướng xã N đi xã V, ký hiệu (5). Đầu xe quay hướng xã V. Trục bánh trước bên trái xe cách mép đường làm chuẩn 43,8m, cách điểm mốc 19,7m về hướng xã V. Trục bánh sau bên trái xe cách mép đường làm chuẩn 41,15m, cách điểm mốc 17,1m. Mở rộng hiện trường không phát hiện dấu vết, đồ vật, tài liệu có liên quan.

Kết quả dựng lại hiện trường:

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành lập biên bản dựng lại hiện trường, kết quả như sau:

  • Dấu vết cày xước mặt đường, dạng không liên tục, ký hiệu (1), chiều hướng huyện T đi thị xã V, kích thước (9,75 x 0,8)m. Điểm đầu vết cách mép đường làm chuẩn 2,2m, cách điểm mốc 28m về hướng xã N và cách vạch dừng đèn đỏ bên phải đường tỉnh lộ 398B (hướng xã V đi xã N) 7,9m và cách vạch dừng đèn đỏ bên phải đường tỉnh lộ 298 (theo hướng huyện T đi thị xã V) 10,4m. Điểm cuối vết nằm trên đường T, cách mép đường làm chuẩn 3,14m, trùng với để chân trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23.
  • Xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 đổ nghiêng trái trên đường T, ký hiệu (2). Đầu xe quay hướng xã V, đuôi xe quay hướng xã N. Trục bánh trước xe cách mép đường làm chuẩn 3,83m và cách điểm đầu vết (1) 10,2m về hướng thị xã V. Trục bánh sau xe cách mép đường làm chuẩn 2,6m và cách điểm đầu vết (1) 9,37m.
  • Dấu vết máu trên mặt đường, ký hiệu (3), kích thước (0,13 x 0,12)m, tâm vết cách mép đường làm chuẩn 3,04m, cách trục trước xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 là 0,4m.
  • Dấu vết máu trên mặt đường, ký hiệu (4), kích thước (1,1 x 0,4)m, tâm vết cách mép đường làm chuẩn 5,8m, cách điểm đầu vết (1) 10,9m về hướng xã V, cách trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 là 2,13m.
  • Căn cứ lời trình bày của người liên quan, đưa xe ô tô biển kiểm soát 29C-690.91, ký hiệu (5) vào vị trí dừng lại ngay sau khi xảy ra tai nạn. Xe ô tô nằm trong ngã tư, đầu xe quay hướng đi thị xã V, chếch chéo sang trái. Trục bánh trước bên trái cách mép đường làm chuẩn 2,9m, cách điểm đầu vết (1) 0,65m về hướng thị xã V, cách điểm mốc 28,7m về hướng xã N. Trục bánh sau bên trái xe cách mép đường làm chuẩn 4,3m, cách điểm mốc 31m.
  • Tại hiện trường phát hiện dấu vết mài sát cao su trên mặt ngoài tấm bê tông dải phân cách cứng trên đường tỉnh lộ 398B, sát bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23, ký hiệu (6), kích thước (0,35 x 0,29)m. T5 vết cách mép đường làm chuẩn 3,67m, cách điểm đầu vết (1) 10,55m về hướng thị xã V, điểm thấp nhất cách đất 0,05m.

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Hồi 12 giờ 10 phút ngày 01/5/024 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, Cơ quan CSĐT Công an huyện T lập biên bản khám nghiệm tử thi chị Trần Thị T2, kết quả như sau:

* Khám ngoài:

  • Vùng đầu: Tóc đen nhuộm vàng một phần, vùng đỉnh chẩm có vết thương rách da, kích thước (1 x 0,5)cm, xung quanh sưng phù nề, kích thước (9 x 6)cm.
  • Vùng mặt: Hai mắt nhắm tự nhiên; mũi chảy dịch màu đỏ, miệng và hai tai khô; má phải có vết trợt da bầm tím, kích thước (3 x 2)cm.
  • Vùng cổ: Cổ chắc, không thấy dấu vết thương tích.
  • Vùng ngực, bụng, lưng, mông: Bụng to; thắt lưng phải có vết trợt da, kích thước (15 x 13)cm; thắt lưng trái có vết trợt da kích thước (5 x 0,2)cm.
  • Tay phải: Mặt sau cánh, cẳng, bàn tay phải có vết bầm tím kích thước (42 x 15)cm; ngón 1 bàn tay phải có vết thương rách da, kích thước (3 x 0,5)cm và vết trợt da, kích thước (1 x 0,5)cm; ngón 2 bàn tay phải có vết trợt da, kích thước (1 x 0,2)cm. Ngón 4 bàn tay phải có vết thương rách da, kích thước (2 x 0,2)cm.
  • Tay trái: Kiểm tra không thấy dấu vết thương tích.
  • Chân phải: Mặt ngoài 1/3 dưới đùi phải, gối phải có vết bầm tím, kích thước (30 x 9)cm; mặt sau 1/3 dưới đùi phải, khoeo chân phải có vết bầm tím, kích thước (26 x 13)cm; mặt trước 1/3 dưới đùi phải có vết thương rách da, kích thước (2 x 0,5)cm; gối phải có hai vết trợt da, kích thước (1,5 x 1)cm và (2,5 x 1)cm; mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải có vết bầm tím, kích thước (15 x 12)cm. Chân trái: Mặt trong cẳng chân trái có vết bầm tím, kích thước (15 x 9)cm. Bộ phận sinh dục không thấy tổn thương. Hậu môn không thoát phân.

Mổ tử thi:

  • Sọ não: Tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng đỉnh chẩm thái dương phải, kích thước (17 x 13)cm; tụ máu cơ thái dương phải; vỡ xương sọ thái dương phải, kích thước (7 x 0,1)cm. Mở hộp sọ thấy các mạch máu bề mặt vỏ não sung huyết, chảy máu màng mềm vùng thái dương trái, kích thước (12 x 7)cm, tổ chức não phân biệt rõ chất trắng và chất xám, tiểu não không thấy tổn thương, xương nền sọ trắng nhẫn.
  • Ngực: Tổ chức dưới da và cơ ngực không thấy tổn thương; gãy cung bên xương sườn số 6 bên phải; khoang lồng ngực hai bên khô.
  • Tim: Màu nâu, cơ tim chắc, các van tim trắng, mềm.
  • Phổi: Màu hồng, diện cắt đều, trong lòng khí phế quản có ít dịch bọt màu đỏ.
  • Ổ bụng: Có 300ml máu không đông màu đỏ.
  • Gan: Gan phải có nhiều đường vỡ, vỡ gan trên diện (15 x 11)cm.
  • Lách: Màu đỏ nhạt, diện cắt đều.
  • Thận: Màu đỏ nhạt, diện cắt phân biệt rõ vùng vỏ và đài bể thận.
  • Tử cung: Cao trên xương mu 30cm so với toàn bộ; bên trong có 01 thai nhi giới tính nam, đã phát triển đầy đủ các bộ phận, thai đã chết.
  • Bàng quang: Đáy bàng quang có vết rách, kích thước (7 x 4)cm.
  • Dạ dày: Màu trắng đục, trong dạ dày chứa thức ăn đang tiêu hóa còn xác định rau; ruột chướng hơi.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98B1-586.23:

  • Mặt gương chiếu hậu bên trái vỡ nhựa, rời khỏi xe.
  • Đầu xe cong vênh hướng từ phải qua trái.
  • Khung kim loại tay nắm bên phải cong vênh hướng từ trước ra sau.
  • Đầu tay nắm bên phải có vết mài sát cao su, kích thước (3 x 1)cm.
  • Ốp nhựa cụm đèn tín hiệu xi nhan bên phải phía trước nứt vỡ nhựa, kích thước (13 x 6)cm; mặt trước cánh yếm bên phải có nhiều vết mài sát sơn nhựa, trên diện (40 x 12)cm.
  • Đầu chắn bùn bánh trước có vết mài sát nhựa, kích thước (2 x 1)cm; đầu trước bên phải khung kim loại đỡ giỏ xe có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng, kích thước (1 x 0,5)cm.
  • Đầu trước bên trái khung kim loại đỡ giỏ xe có vết mài sát kim loại, kích thước (1 x 0,5)cm.
  • Đuôi chắn bùn bánh trước có vết vỡ, khuyết nhựa, kích thước (13 x 7)cm; mặt ngoài ốp nhựa càng xe, đầu ốc bên phải trục bánh trước có vết mài sát sơn, nhựa, kim loại bám dính chất màu trắng, trên diện (29 x 5,5)cm.
  • Cạnh ngoài bên phải vành bánh trước có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng, kích thước (54 x 0,5)cm, điểm gần nhất cách chân van 31cm theo chiều kim đồng hồ. Tương ứng vị trí này, má phải lốp bánh trước có vết mài sát cao su, kích thước (67 x 3,5)cm, điểm gần nhất cách chân van 31cm theo chiều kim đồng hồ.
  • Để chân trước bên phải xô lệch, hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, đầu để chân có vết rách cao su, kích thước (4 x 3)cm.
  • Khung kim loại bảo vệ vỏ máy bên phải cong vênh hướng từ trước về sau, từ phải sang trái, trên có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng, kích thước (12 x 0,5)cm; ốp nhựa vỏ máy bên phải có vết mài sát, vỡ nhựa bám dính chất màu trắng, kích thước (10 x 4)cm.
  • Vỏ máy bên phải bám dính dấu vết máu trên diện (28 x 10)cm; ốp nhựa bảo vệ bên phải bình ắc quy nứt vỡ nhựa, bật khớp định vị.
  • Cần số bên trái cong vênh hướng từ trái sang phải, đầu trước có vết mài sát kim loại bám dính bụi đất, kích thước (2 x 0,5)cm.
  • Để chân trước bên trái cong vênh hướng từ trái sang phải, từ trước về sau, đầu có vết mài sát cao su, kim loại bám dính bụi đất, kích thước (3 x 2)cm.
  • Cạnh ngoài bên trái tay sách phía sau có vết mài sát kim loại, kích thước (4 x 3)cm; ốp nhựa đầu xe xô lệch tạo khe hở, kích thước (18 x 1,5)cm; đầu tay phanh bên phải có vết mài sát sơn, kim loại, kích thước (4 x 1)cm.

Xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát 29C-690.91:

  • Ốp nhựa bên phải đầu xe có vết bẹp lõm, mài sát sơn bám dính chất màu đen, chiều hướng từ sau ra trước, kích thước (9,5 x 0,2)cm, điểm thấp nhất cách đất 92cm.
  • Má ngoài lốp bánh trước bên trái có vết mài sát cao su, kích thước (37 x 7)cm, điểm gần nhất cách chân van 34cm theo chiều ngược kim đồng hồ.
  • Mặt ngoài cửa xe bên trái có nhiều vết bẹp lõm, mài sát sơn, kim loại, bám dính chất màu đen trên diện (78,5 x 59)cm, điểm thấp nhất cách đất 35cm.
  • Mặt ngoài bậc lên xuống cửa xe bên trái có vết bẹp lõm, mài sát, rách kim loại bám dính chất màu đen, mài sát nhựa trên diện (82 x 9)cm, điểm thấp nhất cách đất 24cm.
  • Cạnh ngoài khung kim loại sau cửa xe bên trái có vết mài sát sơn, kim loại, sạch bụi trên diện (51 x 7)cm, điểm thấp nhất cách đất 40cm.
  • Mặt ngoài cạnh dưới bên trái thùng xe có vết mài trượt, bẹp lõm kim loại, bám dính chất màu tím, kích thước (89 x 10)cm, điểm thấp nhất cách đất 61cm, điểm gần nhất cách đuôi thùng xe 132cm.
  • Mặt ngoài thùng xe bên trái có vết bẹp lõm, mài sát kim loại, bám dính chất màu đen và tổ chức cơ thể người trên diện (60 x 52)cm, điểm thấp nhất cách đất 70cm, điểm gần nhất cách đuôi thùng xe 166cm.

Ngày 01/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số: 484/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh B giám định nguyên nhân chết của chị Trần Thị T2. Tại Bản kết luận giám định số: 4731/KLGĐTT-KTHS ngày 23/5/2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh B, kết luận:

Kết quả chính qua giám định:

  • - Khám ngoài:
    • + Vùng đỉnh chẩm có vết thương rách da, xung quanh sưng nề.
  • - Khám trong:
    • + Sọ não: Bộc lộ da đầu thấy tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng đỉnh, chẩm, thái dương phải; tụ máu cơ thái dương phải; vỡ xương sọ vùng thái dương phải. Mở hộp sọ không thấy tụ máu ngoài màng cứng và dưới màng cứng; các mạch máu bề mặt vỏ não sung huyết, chảy máu màng mềm vùng thái dương trái.
    • - Ngực, bụng:
    • + Không thấy tụ máu tổ chức dưới da và cơ thành ngực, thành bụng hai bên. Gãy cung bên xương sườn 6 bên phải, khoang lồng ngực hai bên khô.
    • + Ổ bụng có khoảng 300ml máu không đông màu đỏ.
    • + Gan: Màu nâu. Dập vỡ gan trên diện (15 x 11)cm.
    • + Bàng quang: Đáy bàng quang có vết rách, kích thước (7 x 4)cm.
  • - Kết luận nguyên nhân chết: Chết do sốc mất máu cấp do vỡ gan.
  • - Kết luận khác:
    • Thời gian chết: Cách thời điểm khám nghiệm trên 06 giờ.
    • Các thương tích tại phần “Kết quả chính qua giám định” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của chị Trần Thị T2.
    • Cơ chế, vật, chiều hướng, lực tác động gây thương tích: Các thương tích trên do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động mạnh.
    • Tình trạng thai của chị Trần Thị T2: Khi mổ tử thi thai nhi đã chết trong buồng tử cung. Theo hồ sơ bệnh án xác định tuổi thai khoảng 34 tuần, cân nặng khoảng 2200 gram ± 200 gram. Không xác định được nguyên nhân chết của thai nhi.

Ngày 15/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định trưng cầu giám định số: 549/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định dữ liệu điện tử thu được. Tại Bản kết luận giám định số: 1208/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  • Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video gửi giám định:
    • + File video có tên “TNGT 30.4.2024 1.mp4" dung lượng 31MB, thời lượng 00 phút 48 giây.
    • + File video có tên “TNGT 30.4.2024.mp4" dung lượng 118MB, thời lượng 04 phút 04 giây.
  • Trích xuất được 12 (mười hai) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.

Ngày 21/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số: 565/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông. Tại Bản kết luận giám định số: 1291/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  • Dấu vết bẹp lõm, mài sát kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) tại mặt ngoài bên trái thành thùng của xe ô tô biển kiểm soát 29C-690.91, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 14 đến 18 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát cao su, kim loại tay nắm và tay phanh bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 trong tư thế đứng, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 6, 7 bản ảnh khám phương tiện).
  • Dấu vết rách, mài sát sơn, kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) và màu xám (dạng sơn) tại phía dưới cánh cửa xe bên trái và bậc lên xuống cabin bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 29C-690.91, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 5,9,10 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 trong tư thế đứng gồm: giá gắn giỏ xe, má lốp và vành bánh trước, giảm sóc trước, đầu ốc trục bánh trước, vỏ máy, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 13, 17 đến 20, 29 bản ảnh khám phương tiện).
  • Dấu vết mài sát sơn, nhựa, cao su, kim loại tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 gồm: đầu tay nắm, phía gắn giỏ xe, chắn bùn bánh trước, để chân trước, tay sách phía sau được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 1.
  • Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 29C-690.91 với xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc khu vực giao nhau giữa đường tỉnh lộ 298 với đường tỉnh lộ 398B, không xác định phần đường trong khu vực giao nhau.
  • Không xác định được chiều hướng chuyển động của hai phương tiện qua dấu vết cơ học.
  • Ngoài dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 29C-690.91 với xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23, trên hai phương tiện không phát hiện dấu vết va chạm với phương tiện khác. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Kết quả thực nghiệm điều tra:

Ngày 02/5/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra để xác định vị trí va chạm và khả năng quan sát của người điều khiển phương tiện trước khi xảy ra tai nạn. Kết quả:

  • Đưa xe ô tô đến vị trí trục bánh trước bên trái cách điểm mốc 29,95m, cách mép vạch kẻ đường bên trái Tỉnh lộ 298 (hướng huyện T đi thị xã V) 3,85m; trụ bánh sau bên trái xe cách mép vạch kẻ đường bên trái tỉnh lộ 298 5m. Đưa xe mô tô đến vị trí trục bánh trước cách điểm mốc 30,4m, cách mép vạch kẻ đường bên trái tỉnh lộ 298 4m, cách trục bánh trước bên trái xe ô tô 1,1m; trục bánh sau cách mép vạch kẻ đường bên trái tỉnh lộ 298 4,55m. Tại vị trí này các dấu vết va chạm giữa hai phương tiện phù hợp với nhau, xe mô tô sau va chạm đổ ra đường có thể tạo được dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số (1). Tại vị trí lái trên xe ô tô quan sát qua gương chiếu hậu bên trái thấy được phần đầu xe mô tô; thấy được phần đường phía sau và xa nhất của vạch sơn giữa đường cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 20m; thấy được phần đường phía sau bên trái xe ô tô đến vị trí mép đường bên phải (theo chiều đi của ô tô) cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 25,7m và vị trí mép đường bên phải cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 81,25m.
  • Tịnh tiến lùi xe ô tô đến vị trí bắt đầu chuyển hướng rẽ trái, xe ô tô ở vị trí: trục bánh trước bên trái cách điểm mốc 35,15m, cách mép vạch kẻ đường bên trái tỉnh lộ 298 (hướng huyện T đi thị xã V) 7,1m. Tại vị trí này từ ghế lái trên xe quan sát qua gương chiếu hậu bên trái thấy được phần đường phía sau xe đến vị trí mép đường bên phải (theo chiều đi) cách trục bánh sau bên trái xe 48,82m trở về sau và vị trí mép đường bên trái (theo chiều đi) cách trục bánh sau bên trái xe 36,57m trở về sau.

Ngày 14/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có công văn gửi Sở Giao thông vận tải tỉnh B về việc tra cứu giấy phép lái xe của Trần Văn B và Hứa Văn H. Ngày 20/5/2024, Sở Giao thông vận tải tỉnh B cung cấp thông tin giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] ngày cấp 19/9/2017của Hiền; 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] ngày cấp 29/05/2018, ngày hết hạn 29/5/2028 của B.

Sau khi xảy ra va chạm, Hứa Văn H bị thương tích, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định về thương tích, tuy nhiên H không đi giám định; Cơ quan điều tra đã quyết định dẫn giải nhưng H không chấp hành. Tại Cơ quan điều tra, H khai nhận trước khi xảy ra va chạm có uống bia, phù hợp với kết quả đo nồng độ cồn của H là 0.482 mg/L vào hồi 03 giờ 13 phút ngày 01/5/2024.

Ngày 22/6/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Hạt quản lý đường bộ T7 để xác định vạch kẻ đường trong ngã tư giao nhau giữa Tỉnh lộ 298 với Tỉnh lộ 398B thuộc thôn A, xã N, huyện T xác định: Trong ngã tư giao nhau giữa Tỉnh lộ 298 với Tỉnh lộ 398B có vạch kẻ sơn 5.1 đơn, nét đứt. Vạch dùng để định hướng quỹ đạo cho dòng xe rẽ trái theo giải pháp tổ chức làn đường được sử dụng trong nút giao. Mục đích sử dụng vạch là tăng tính năng dẫn hướng cho xe chạy, xe có thể cắt qua vạch.

Tại bản cáo trạng số: 77/CT-VKS ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát huyện T, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hứa Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Văn B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hứa Văn H 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hứa Văn H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 32 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn B cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Trả bị cáo Hứa Văn H 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] ngày cấp 19/9/2017 mang tên Hứa Văn H.
  • + Trả bị cáo Trần Văn B 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] ngày cấp 29/05/2018 mang tên Trần Văn B.

- Về án phí: Bị cáo Hứa Văn H, bị cáo Trần Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Hứa Văn H, bị cáo Trần Văn B trình bày: Các bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội; các bị cáo đã khắc phục hậu quả và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại và người đại diện theo uỷ quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, về bồi thường thiệt hại đã được nhận bồi thường đầy đủ và không có yêu cầu bồi thường thêm, sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Hứa Văn H, bị cáo Trần Văn B phù hợp với vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 30/4/2024 tại đoạn ngã tư giao nhau giữa đường T với đường Tỉnh lộ 398B, thuộc thôn A, xã N, huyện T, bị cáo Hứa Văn H (là người có giấy phép lái xe mô tô) đã uống rượu, bia điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B1-586.23 chở chị Trần Thị T2 do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn tại nơi đường giao nhau, vượt xe không đảm bảo an toàn, dẫn đến va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 29C-690.91 do bị cáo Trần Văn B (có giấy phép lái xe ô tô) điều khiển đi phía trước cùng chiều đang rẽ trái. Căn cứ các dấu vết tại hiện trường, các dấu vết trên xe mô tô, xe ô tô liên quan đến tai nạn giao thông, các bản Kết luận giám định, thì hành vi điều khiển xe mô tô của bị cáo H đã vi phạm khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ, khoản 3, Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo B đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ và khoản 2 Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về chú ý quan sát đảm bảo an toàn khi chuyển hướng rẽ trái. Hậu quả là nghiêm trọng, làm cho chị Trần Thị T2 chết. Hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo B đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn do lỗi của bị cáo Hứa Văn H và bị cáo Trần Văn B gây nên, bị cáo H điều khiển xe mô tô khi trong người có nồng độ cồn là 0.482 mg/L, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nơi đường giao nhau, vượt xe không đảm bảo an toàn; bị cáo B điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát đảm bảo an toàn khi chuyển hướng rẽ trái dẫn đến sự và chạm giữa xe mô tô và xe ô tô, hậu quả chị T2 chết là ngoài ý muốn của các bị cáo.

Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Hứa Văn H và bị cáo Trần Văn B trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, bị cáo H đã thực hiện trả tiền viện phí và tiền mai táng phí là 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng), bị cáo B bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng), gia đình bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; bị cáo H có thời gian tham gia Công an nghĩa vụ, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo H điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi đã uống rượu, bia là tình tiết định khung hình phạt, chị T2 bị chết khi đang mang thai tuần thứ 34 là con của bị cáo H, tuy nhiên các bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nên các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội đối với phụ nữ có thai. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo H đã bồi thường khắc phục hậu quả là tiền viện phí, tiền mai táng phí chi chị T2 số tiền 38.000.000 đồng (Ba mươi tám triệu đồng), bị cáo B đã bồi thường cho cho đại diện hợp pháp của người bị hại số tiền là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[6] Đối với ô tô nhãn hiệu SUZUKI, màu sơn trắng, biển kiểm soát 29C-690.91, 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm số 2300088941, 01 (một) đăng ký xe ô tô số 813638, 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số EB0837774 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị C1. Ngày 16/6/2024, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho bà C1 là đúng theo quy định.

Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, số loại SUPERDREAM, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98B1-586.23, 01 (một) đăng ký xe mô tô số 061512 là tài sản hợp pháp của ông Hứa Văn Đ. Ngày 16/6/2024, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho ông Đ là đúng theo quy định.

Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] ngày cấp 19/9/2017 mang tên Hứa Văn H; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] ngày cấp 29/05/2018 mang tên Trần Văn B thu giữ trong quá trình điều tra, xét thấy các bên liên quan đến vụ tai nạn giao thông đã thỏa thuận giải quyết xong về bồi thường thiệt hại, vì vậy cần trả lại giấy phép lái xe trên cho các bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo Hứa Văn H, bị cáo Trần Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Hứa Văn H 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 12/11/2024.

    Giao bị cáo Hứa Văn H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 12/11/2024.

    Giao bị cáo Trần Văn B cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Trả lại bị cáo Hứa Văn H 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] ngày cấp 19/9/2017 mang tên Hứa Văn H.
    • Trả bị cáo Trần Văn B 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] ngày cấp 29/05/2018 mang tên Trần Văn B.

    (Vật chứng của vụ án như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên.)

  5. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Hứa Văn H, Trần Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người đại diện theo uỷ quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc kể từ ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - Công an huyện Tân Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Bị cáo, đại diện của bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã Hồng Kỳ, huyện Yên Thế;
  • - UBND xã Lam Cốt, huyện Tân Yên;
  • - Lưu Hs, Vp.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Biên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hứa Văn H và Trần Văn B phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger