Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN LẠC

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày: 29/10/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khảm và ông Hoàng Đức Khoa

Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/HSST-QĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lương Văn T, sinh ngày 16 tháng 8 năm 2002; Nơi sinh và cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lương Văn N, con bà Lê Thị X; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt.
  2. Trần Văn T1, sinh ngày 28 tháng 5 năm 1997; Nơi sinh và cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn A, con bà Trần Thị B; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt

* Người làm chứng: Anh Đại Hồng T2, sinh năm 1999; địa chỉ: TDP A T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 20/7/2024, tại khu vực Chợ T4 tổ dân phố C Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác Công an huyện Y phối hợp với Công an xã N kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Lương Văn T và Trần Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm:

  • Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Lương Văn T 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng L, bên trong có: 01 (một) túi nilon màu đen, bên trong đựng tinh thể dạng đá màu trắng; 01 (một) túi nilon màu đen, bên trong đựng tinh thể màu trắng và viên nén màu hồng niêm phong kí hiệu A1, T và T1 khai nhận đó là ma túy của T và T1 tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
  • Thu giữ của Lương Văn T 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 88L1-729.38, nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, đã cũ, đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 2131/KLGĐ ngày 25/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận:

“1. Tình thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7365g (không phẩy bảy ba sáu năm gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.

2. 02 (hai) viên nén màu hồng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2000g (không phẩy hai không không không gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine."

Về nguồn gốc ma túy, Lương Văn T và Trần Văn T1 khai nhận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 20/7/2024, khi T đang ở huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc thì có nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp. Lúc này, T gặp Trần Văn T1 nên T bảo T1 chở T đến huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để mua ma túy tổng hợp về cùng sử dụng thì T1 đồng ý. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, biển kiểm soát: 88L1-729.38 của T chở T đi từ huyện B qua cổng Khu công nghiệp B, qua xã P và xã T của huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc rồi đi qua xã N của huyện Y đến thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc theo sự chỉ dẫn của T. Trên đường đi, T1 có hỏi T để góp tiền mua ma túy và T có trả lời với T1 rằng: “Em có tiền, nếu không đủ thì anh góp thêm tiền để mua ma túy” thì T1 đồng ý. Sau đó, khi đến khu vực chợ T4 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thì T và T1 gặp 01 (một) nam giới lạ mặt, khoảng 35 tuổi, cao khoảng 1,65m, dáng người bình thường (không rõ tên tuổi, địa chỉ) nhìn giống người nghiện ma túy nên T hỏi mua của người này 1.000.000 đồng tiền ma túy tổng hợp thì người này đồng ý, T đưa cho người này số tiền 1.000.000 đồng (do T có đủ tiền mua ma túy nên T không bảo T1 góp tiền để mua ma túy), người này đưa cho T 01 vỏ bao thuốc lá T, bên trong chứa 02 túi ma túy tổng hợp rồi bỏ đi. T cầm vỏ bao thuốc lá chứa 02 túi ma túy vừa mua được bên tay phải rồi bảo T1 chở T về huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm nơi sử dụng ma túy thì đúng lúc này có Tổ công tác Công an huyện Y đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang T và T1 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 76/CT-VKSYL, ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố các bị cáo Lương Văn T, Trần Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lương Văn T, Trần Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 (bị cáo T được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51); Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu A1 tinh thể = 0,5738 gam và mẫu A1 viên nén = 0,1002 gam còn lại sau giám định; Trả lại cho Lương Văn T 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 88L1-729.38, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không bào chữa gì thêm và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 20/7/2024, tại khu vực Chợ T4 tổ dân phố C Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ Công tác Công an huyện Y, Công an xã N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lương Văn T và Trần Văn T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,9365 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Tang vật thu giữ: T3 tại lòng bàn tay phải của Trường A1 (một) vỏ bao thuốc lá T5, bên trong có 02 (hai) gói ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng bằng 0,9365gam; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 88L1-729.38, nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, đã cũ, đã qua sử dụng.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Việc sử dụng ma túy gây ảnh hưởng đến sức khỏe cho chính bản thân người nghiện, gây tác hại đến cả gia đình và toàn xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội khác, gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

  1. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo T đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, từ tháng 02 năm 2021 đến tháng 01 năm 2023 nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng: Trong vụ án này, bị cáo T là người rủ rê bị cáo T1 đi mua ma túy về để sử dụng, tiền mua ma túy cũng là của bị cáo nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn. Bị cáo T1 sau khi được T rủ rê cũng đồng ý đi cùng và là người điều khiển xe đưa T đi mua ma túy, nếu T không đủ tiền thì T1 cũng sẽ góp tiền để cùng mua ma túy nên cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng.

  1. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy trước khi phạm tội các bị cáo đều là lao động tự do, là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc, thu nhập ổn định, tại địa phương các bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  2. Về vật chứng:
  • Đối với mẫu A1 tinh thể = 0,5738 gam và mẫu A1 viên nén = 0,1002 gam cùng bao gói được niêm phong do Phòng K - Công an tỉnh V hoàn trả sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 88L1-729.38, nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, đã cũ, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của Lương Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội nêu trên nên cần trả lại cho T nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
  1. Về các vấn đề khác:

Đối với người nam giới bán trái phép chất ma túy cho T và T1 vào ngày 20/7/2024. Tại Cơ quan điều tra, T và T1 khai nhận người nam giới này khoảng 35 tuổi, cao khoảng 1,65m, dáng người bình thường. T và T1 không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người nam giới trên. Cơ quan điều tra không xác minh, triệu tập được người nam giới này, vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở để tiếp tục xác minh và không đề cập xử lý, khi nào làm rõ xử lý sau.

  1. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lương Văn T, Trần Văn T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lương Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/7/2024.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/7/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  • - Tịch thu, tiêu hủy bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu A1 tinh thể = 0,5738 gam và mẫu A1 viên nén = 0,1002 gam là ma túy còn lại sau giám định;
  • - Trả lại cho Lương Văn T 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 88L1-729.38, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2024 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc).

  • - Về án phí: Buộc các bị cáo Lương Văn T, Trần Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Yên Lạc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Lạc;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - UBND xã Thượng Trưng; xã Yên Bình, huyện Vĩnh Tường;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn Tr cùng đồng phạm tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger