Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày: 23-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Huy Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Xuyến và ông Nguyễn Đức Thủy.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Mây - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc S, tên gọi khác: không có; sinh ngày 12/4/1993, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ C, khu M - Đ, phường V, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S1 và bà Nguyễn Thị Y; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 21/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, có mặt tại phiên toà.

* Những người làm chứng: Anh Hà Anh N, bà Nguyễn Thị H, chị Lường Thị T, chị Vàng Thị S2 và chị Lò Thị T1, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc S, H N và anh Quách Hòa B là bạn bè quen biết. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/6/2024, S rủ N, B đi ăn đêm, ăn đến khoảng 02 giờ 15 phút ngày 21/6/2024 thì ăn xong, cả nhóm rủ nhau đi hát. N gọi điện cho chị Nguyễn Thị H là chủ quán K thuộc tổ A, khu B, phường V, thành phố U đặt phòng. Khi nhóm S đến, chị H bố trí hát tại phòng Vip 3, N bảo chị H cho 03 nhân viên nữ đến phục vụ rót bia và hát cùng cho vui. Chị H gọi các chị Lường Thị T, Lò Thị T1 và Vàng Thị S2 đến phục vụ. Hát được một lúc, S để mọi người hát, còn S ra ngoài tìm mua ma tuý. Đến khoảng 04 giờ 10 phút cùng ngày, S quay vào phòng hát cầm 01 viên ma tuý thuốc lắc bẻ làm đôi đưa cho N một nửa (lúc này có chị Lò Thị T1 nhìn thấy), S và N sử dụng bằng hình thức cho vào miệng uống, nuốt ma tuý vào cơ thể. Sau đó cả nhóm tiếp tục hát thêm một lúc thì B bỏ về trước. Đến khoảng 04 giờ 40 phút cùng ngày, Công an thành phố U đi kiểm tra hành chính quán K phát hiện tại phòng Vip 3 tiếng nhạc mở to, có một nhóm thanh niên gồm: Nguyễn Ngọc S, Hà Anh N, Lường Thị T, Lò Thị T1 và Vàng Thị S2 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma tuý nên tiến hành thu mẫu nước tiểu của các đối tượng và tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu iPhone gắn sim số 0763.332.xxx của Nguyễn Ngọc S.

Tại Kết luận giám định số: 988/KL-KTHS, ngày 27/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Ngọc S, H N gửi giám định. Không tìm thấy chất ma tuý thường gặp và sản phẩm chuyển hoá trong mẫu nước tiểu ghi thu của Vàng Thị S2, Lường Thị T, Lò Thị T1 gửi giám định.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc S đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu ở trên. Ngoài ra S còn khai: nguồn gốc ma tuý là S mua của đối tượng Lê Thái H1 ở phường V bằng hình thức chuyển khoản qua Ngân hàng, sau đó H1 mang ma tuý đến cho S. Cơ quan điều tra xác minh, triệu tập xác định người S chuyển tiền là Lê Thái H1, sinh năm 1994, trú tại tổ B, khu D, phường V, thành phố U. Tại Cơ quan điều tra H1 chỉ thừa nhận ngày 21/6/2024 có nhận tiền chuyển khoản 1.000.000 đồng là tiền trả nợ của S, H1 không thừa nhận bán ma tuý cho S.

Tại Cáo trạng số: 1826/CT-VKSUB ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Ngọc S từ 30 đến 36 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 21/6/2024. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 bộ luật Hình sư; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động iPhone, tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại đã thu giữ của bị cáo.

Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh : Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, với Biên bản kiểm tra hành chính do Công an phường V, thành phố U lập hồi 04 giờ 40 phút ngày 21/6/2024, với Kết luận giám định số: 988/KL –KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q về tìm thấy chất ma tuý trong mẫu nước tiểu thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc S, và anh Hà A N cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 04 giờ 10 phút, ngày 21/6/2024, tại quán K, thuộc tổ A, khu B, phường V, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Ngọc S là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi tổ chức cho anh Hà A N sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phát hiện, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc S đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Hình phạt chính:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành có nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì đua đòi, coi thường pháp luật, bị cáo đã mua ma túy để sử dụng đồng thời rủ rê chia ma tuý cho người khác để sử dụng với mục đích đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác làm ảnh hưởng đến sức khỏe, đến nhân cách của người đã được bị cáo cho sử dụng trái phép chất ma túy nên cần phải xử lý nghiêm.

  • * Tình tiết tăng nặng: không có.
  • * Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Đối với 01 điện thoại di động kèm theo sim theo như bị cáo bị cáo khai là dùng vào việc liên lạc để mua ma tuý và thanh toán tiền cho Lê Thái H1 và tại phiên toà bị cáo có quan điểm không muốn nhận lại nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước và tịch thu tiêu huỷ.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[6] Những tình tiết khác trong vụ án:

Đối với H N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Công an thành phố U xử phạt vi phạm hành chính. Đối với Lê Thái H1 theo S khai là người bán ma tuý cho S nhưng H1 không thừa nhận, nên không có căn cứ để xử lý. Chủ quán Karaoke Nguyễn Thị H không biết việc S tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng hát nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Nguyễn Ngọc S 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại iPhone màu xám đã qua sử dụng; tịch thu tiêu huỷ sim điện thoại số 0763.332.xxx.

(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Huy Hùng

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Thị Xuyến

Nguyễn Đức Thuỷ

Vũ Huy Hùng

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Uông Bí;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQTHAHS Công an TP Uông Bí;
  • - CQCSĐT Công an TP Uông Bí;
  • - CCTHADS thành phố Uông Bí;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc S- Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger