|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 81/2024/HS-ST Ngày 26-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Xuân Thuỷ;
Bà Trần Thị Ngoan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Gia Phú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lê Hoài P, sinh năm 1979 tại tỉnh Tiền Giang.
- Đặng Thành D (tên gọi khác: Đ1), sinh năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh.
Nơi đăng ký thường trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi ở hiện nay: ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; có vợ tên Lê Thu H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/4/2024 cho đến nay (có mặt).
Nơi cư trú: ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Đ2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1 (đã chết); có vợ tên Trần Ngọc X (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/7/2024 cho đến nay (có mặt).
* Bị hại: Anh Bùi Minh N, sinh năm 2005 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Minh N:
- - Ông Bùi Công L1, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- - Bà Trần Thị T, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bạch Văn Đ3, sinh năm 1974. Đia chỉ: Khu phố A, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng từ tháng 5/2023, bị cáo Đặng Thành D thuê bị cáo Lê Hoài P chở nước đá thuê mỗi ngày, bị cáo D biết rõ bị cáo P không có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng D giao cho P chiếc xe mô tô 03 bánh, có dung tích xi lanh 200 cm³, gắn biển số 61L8-2395 để hàng ngày P đi chở nước đá giao cho khách hàng ở khu vực xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. D và P thoả thuận tiền công mỗi ngày là 200.000 đồng và hai bên chỉ thoả thuận miệng với nhau, không có văn bản.
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 11/12/2023, P đến nhà của D thuộc ấp C, xã Đ, huyện C tỉnh Tây Ninh để lấy xe mô tô 03 bánh, có gắn biển số 61L8-2395 của D để chất nước đá lên xe tại nhà của D. Sau đó, P điều khiển xe đi giao nước đá cho khách hàng ở khu vực xã Đ. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, P điều khiển xe mô tô 03 bánh của D lưu thông trên đường quốc lộ 22B, đi từ hướng xã Đ về hướng ngã tư B. Lúc này, bị hại anh Bùi Minh N, sinh năm 2005, trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh điều khiển xe mô tô biển số 70D1-259.29 lưu thông hướng ngã tư B đến Ủy ban nhân dân xã Đ.
Khi P điều khiển xe mô tô 03 bánh đến đoạn đường thuộc ấp C, xã Đ thì chuyển hướng rẽ trái và đi qua phần đường bên trái hướng đi để về nhà D, do P thiếu quan sát và không đảm bảo khoảng cách an toàn, nên xe mô tô 03 bánh do P điều khiển va chạm vào xe mô tô do anh N điều khiển đi đúng phần đường, làm cho xe mô tô cùng anh N ngã ra đường, gây bất ngờ và va chạm với mặt ngoài bánh sau bên trái xe ô tô, biển số 70H-008.88 do ông Bạch Văn Đ3 có giấy phép lái xe hạng C, đi từ ngã ba V về hướng ngã tư B, tai nạn xảy ra làm cho anh N bị thương tích được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T thì chết do chấn thương sọ não. Sau khi xảy ra vụ việc thì bị cáo P điều khiển xe mô tô 03 bánh rời khỏi hiện trường.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:
Đoạn đường quốc lộ 22B thuộc ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, đoạn đường có một hướng đi về ngã tư B, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, thẳng, khô, đường rộng 11,60 mét, ở giữa có vạch sơn màu vàng đứt quãng, chia mặt đường thành hai chiều xe chạy, phần đường bên phải hướng đi từ ngã tư B về hướng xã Đ rộng 5,50 mét. Nơi xảy ra tai nạn hai bên đường có nhiều dân cư sinh sống, có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, biển báo khu dân cư và camera của tiệm tạm hoá L2 và cửa hàng nước đá của nhà D. Chọn mép đường bên phải đi từ ngã tư B về hướng xã Đ làm chuẩn để đo đạc các vị trí. Lấy trụ điện số 52 bên lề trái hướng đi từ ngã tư B đến xã Đ làm mốc cố định.
- - Vị trí số 1: Nhiều mảnh vỡ nhựa màu trắng trong suốt trên mặt đường bên phần đường bên phải hướng đi đến xã Đ, nhiều mảnh vỡ nhựa có chiều dài hướng đến xe mô tô biển số 70D1-259.29, mảnh vỡ nhựa lớn nhất kích thước (2,3 x 2) cm, mảnh vỡ nhỏ nhất kích thước (1 x 0,5) cm và kích thước chung nhiều mảnh vỡ nhựa trên mặt đường là (2,3 x 0,5) cm. T1 vị trí số 1 đến lề chuẩn là 4,40 mét.
- - Vị trí số 2: Nhiều mảnh vỡ nhựa màu bạc trên mặt đường bên phần đường bên phải hướng đi đến xã Đ, mảnh vỡ nhựa lớn nhất kích thước (2,5 x 3) cm, mảnh vỡ nhỏ nhất kích thước (1 x 0,5) cm và kích thước chung nhiều mảnh vỡ trên mặt đường là (25 x 15) cm. Vị trí số 2 đo đến lề chuẩn là 3,25 mét. T1 vị trí 1 đến tâm vị trí 2 là 1,20 mét.
- - Vị trí số 3: Vết cày liên tục dài 0,55 mét trên mặt đường bên phần đường bên phải hướng đi đến xã Đ, vết có chiều hướng đến xe mô tô biển số 70D1-259.29.
- + Đầu vị trí số 3 đo đến mép chuẩn là 4,95 mét.
- + Cuối vị trí số 3 đo đến mép chuẩn là 5,05 mét.
- + T1 vị trí số 2 đến đầu vị trí 3 là 2,65 mét.
- - Vị trí số 4: Vết cày đứt quãng dài 2,05 mét trên mặt đường bên phần đường bên phải hướng đi đến xã Đ, vết có chiều hướng và kết thúc tại gác chân sau bên trái của xe mô tô biển số 70D1-259.29.
- + Đầu vị trí số 4 đo đến mép chuẩn là 4,85 mét.
- + Đầu vị trí số 4 đo đến đầu vị trí số 3 là 1,35 mét.
- - Vị trí số 5: Vết máu dạng loang trên mặt đường bên phần đường bên phải hướng đi đến xã Đ, vết máu có kích thước (4,80 x 0,60) mét. T1 vị trí số 5 đo vào mép chuẩn là 8,40 mét. Đầu vị trí số 4 đo đến tâm vị trí số 5 là 3,30 mét.
- - Vị trí số 6: Một chiếc dép nhựa màu đen trên mặt đường bên phần đường bên trái hướng đi đến xã Đ. T1 vị trí số 6 đo vào mép chuẩn là 7,80 mét. T1 vị trí số 5 đo đến vị trí số 6 là 1,20 mét.
- - Vị trí số 7: Một nón bảo hiểm màu bạc trên mặt đường bên phần đường bên trái hướng đi đến xã Đ, vành nón bị gãy mất, mặt ngoài phía trước nón có ba vết trượt kích thước (7 x 4,5) cm, (8,5 x 1,5) cm, (78 x 5) cm. T1 vị trí số 7 đo vào mép chuẩn là 6,10 mét.
- - Vị trí số 8: Xe mô tô biển số 70D1-259.29 ngã sang trái áp sát trên mặt đường bên phần đường bên phải hướng đi đến xã Đ, đầu xe lệch vào mép chuẩn hướng về xã Đ.
- + Trục bánh xe trước xe mô tô đo vào mép chuẩn là 5,25 mét.
- + Trục bánh xe sau xe mô tô đo vào mép chuẩn là 5,55 mét.
Kết quả dựng lại hiện trường vào ngày 24/4/2024 thể hiện:
- - Vị trí số 1: Nhiều mảnh vỡ nhựa.
- - Vị trí số 2: Nhiều mảnh vỡ nhựa.
- - Vị trí số 3: Xe mô tô 03 bánh có gắn biển số 61L8-2395 đang trên phần đường bên phải theo hướng đi từ ngã tư B đến xã Đ; đầu xe quay lệch về hướng đi đến ngã tư B.
- + Trục bánh trước xe mô tô 03 bánh tại vị trí số 3 đo vào mép chuẩn là 2,10 mét.
- + Trục bánh sau bên trái xe mô tô 03 bánh tại vị trí số 3 đo vào mép chuẩn là 2,50 mét.
- + Trục bánh sau bên phải xe mô tô 03 bánh tại vị trí số 3 đo vào mép chuẩn là 3,70 mét.
- + Trục bánh sau bên phải xe mô tô 03 bánh tại vị trí số 3 đo đến điểm đầu vị trí số 1 là 0,60 mét.
- * Kết luận giám định số 1966/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không có nồng độ cồn trong mẫu máu thu của Bùi Minh N.
- * Kết luận giám định số 1967/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy chất ma tuý trong mẫu máu thu của Bùi Minh N.
- * Kết luận giám định tử thi số 1938/KLGĐTT-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Bùi Minh N chết do chấn thương sọ não.
- * Kết luận giám định số 2095/KL-KTHS ngày 14/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Vết trượt màu xanh bám dính trên mặt trước cần thắng tay bên phải xe mô tô biển số 70D1-259.29 (kí hiệu M) có thành phần hoá học cơ bản giống với thành phần hoá học cơ bản của các mảnh sơn màu xanh bị bong tróc trên mặt ngoài thùng xe, bên phải xe mô tô ba bánh biển số 61L8-2395 (kí hiệu SS).
- * Kết luận giám định số 412/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Các mẫu cần giám định (tổ chức da cơ và vết màu nâu đỏ ghi thu trên cung chắn bùn phía sau của bánh xe sau bên phải xe mô tô ba bánh biển số 61L8-2395, vết máu thu được tại vị trí số (5) trên mặt đường) là máu người. Phân tích gen (ADN) từ các dấu vết máu này được kiểu gen trùng với kiểu gen của Bùi Minh N.
- * Kết luận giám định số 473/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chiếc xe mô tô 03 bánh, sơn màu xanh số khung bị đục xoá không xác định được số nguyên thuỷ, số máy không bị đục xoá.
- * Kiểm tra nồng độ cồn, ma tuý đối với Bạch Văn Đ3: Không có.
- * Kiểm tra nồng độ cồn, ma tuý đối với Lê Hoài P ngày 11/12/2023: Không có.
* Kết quả thu giữ, xử lý vật chứng:
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 001775, biển số xe: 70H-008.88 (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số: EB0143084, có hiệu lực đến hết ngày 26/4/2024 (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số: OTOBB230009908 (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) xe ô tô tải biển số 70H-008.88, nhãn hiệu: THACO, màu sơn: trắng, số máy: PHASER230TIHC502852BA05, số khung: RNHC2400BFC045814 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông). Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Trần Hữu D1, sinh năm 1974, trú tại: khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh chiếc xe và các giấy chứng nhận trên.
- - 01 (một) xe mô tô biển số 70D1-259.29, nhãn hiệu: HONDA, màu sơn: Trắng – đen – bạc, số máy: HC12E5347411, số khung: HC1210DY347325 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông). Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu ông Bùi Công L1 là cha của bị hại.
- - 01 (một) giấy phép lái xe số: [...], hạng “C” mang tên Bạch Văn Đ3 (đã qua sử dụng). Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Bạch Văn Đ3.
- - 01 (một) căn cước công dân số [...], mang tên Bạch Văn Đ3 (đã qua sử dụng). Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Bạch Văn Đ3.
- - 01 (một) xe mô tô ba bánh (xe ba gác) biển số 61L8-2395 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông).
* Về kê biên tài sản: Các bị cáo Lê Hoài P và Đặng Thành D không có tài sản nên không kê biên.
* Về bồi thường thiệt hại: Người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí mai táng và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần số tiền 200.000.000 đồng. Trong đó, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng, bị cáo Đặng Thành D đã bồi thường 10.000.000 đồng, nên yêu cầu bị cáo D bồi thường số tiền còn lại là 90.000.000 đồng. Bị cáo Lê Hoài P chưa bồi thường. Ông Bạch Văn Đ3 đã hỗ trợ cho người đại diện hợp pháp của bị hại 10.000.000 đồng.
Đối với ông Bạch Văn Đ3 có giấy phép lái xe đúng quy định, điều khiển xe ô tô biển số 70H-008.88 đi đúng phần đường, làn đường, va chạm với anh Bùi Minh N là sự kiện bất ngờ nên không đề nghị xử lý đối với ông Bạch Văn Đ3.
Tại bản Cáo trạng số: 67/CT-VKSCT ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Hoài P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Đặng Thành D về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Hoài P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Tuyên bố bị cáo Đặng Thành D phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
- Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hoài P từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Thành D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.
- Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Đặng Thành D.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận ông Bạch Văn Đ3 đã hỗ trợ 10.000.000 đồng cho người đại diện hợp pháp của bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường 200.000.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo bồi thường 100.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý nên ghi nhận.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoài P và Đặng Thành D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Khoảng từ tháng 5/2023, bị cáo Đặng Thành D là chủ xe mô tô 03 bánh biển số 61L8-2395, bị cáo D biết rõ bị cáo Lê Hoài P không có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng D vẫn thuê và giao cho P điều khiển xe mô tô 03 bánh chở nước đá giao cho khách hàng của D hàng ngày với tiền công là 200.000 đồng/1ngày. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 11/12/2023, bị cáo P điều khiển xe mô tô 03 bánh của D lưu thông trên đường quốc lộ 22B, từ hướng xã Đ đi đến ngã tư B và chuyển hướng rẽ trái qua phần đường bên trái hướng đi, nhưng không quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn nên va chạm vào xe mô tô biển số 70D1-259.29 do bị hại anh Bùi Minh N điều khiển đi đúng phần đường hướng ngã tư B đến xã Đ, làm cho xe mô tô cùng anh N ngã ra đường, gây bất ngờ và va chạm với mặt ngoài bánh sau bên trái xe ô tô biển số 70H-008.88 do ông Bạch Văn Đ3 điều khiển đi hướng xã Đ đến ngã tư B, làm cho anh N bị thương tích được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T thì chết do chấn thương sọ não. Sau khi gây ra tai nạn giao thông, bị cáo P điều khiển xe rời khỏi hiện trường.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản cáo trạng, lời luận tội của kiểm sát viên và những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Hoài P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đặng Thành D phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng. Các bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông và tính mạng của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi các bị cáo đã thực hiện, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Khi quyết định hình phạt, có xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:
- - Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
- - Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Đặng Thành D phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[6] Về quyết định hình phạt: Xét thấy, các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tuy nhiên, đối với bị cáo P sau khi gây tai nạn không cứu giúp bị hại mà lái xe rời khỏi hiện trường, chưa bồi thường được phần thiệt hại nào cho gia đình của bị hại. Do đó, bị cáo phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo D có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ, giao chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành bản án cũng đủ tác dụng để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[7] Về bồi thường thiệt hại: Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí mai táng và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần với số tiền 200.000.000 đồng. Trong đó, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý nên ghi nhận. Bị cáo D đã bồi thường trước 10.000.000 đồng, nên có nghĩa vụ bồi thường tiếp số tiền còn lại là 90.000.000 đồng. Ghi nhận ông Bạch Văn Đ3 đã hỗ trợ cho người đại diện hợp pháp của bị hại 10.000.000 đồng.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) xe mô tô (xe ba gác) biển số 61L8-2395, nhãn hiệu: LONCIA, loại: mô tô ba bánh, màu sơn: Xanh, dung tích xi lanh: 200 cm³ có số máy LX163FMLUC046743, số khung: bị đục xoá không xác định được số nguyên thuỷ (bị hư hỏng do tại nạn giao thông) là xe của bị cáo D, tai nạn xảy ra ngoài ý muốn, nên trả lại cho bị cáo D là phù hợp.
- - 01 (một) xe ô tô tải biển số 70H-008.88, nhãn hiệu: THACO, màu sơn: trắng, số máy: PHASER230TIHC502852BA05, số khung: RNHC2400BFC045814 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 001775, biển số xe: 70H-008.88 (đã qua sử dụng); 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số: EB0143084, có hiệu lực đến hết ngày 26/4/2024 (đã qua sử dụng) và 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số: OTOBB230009908 (đã qua sử dụng). Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Trần Hữu D1 nên ghi nhận.
- - 01 (một) xe mô tô biển số 70D1-259.29, nhãn hiệu: HONDA, màu sơn: Trắng – đen – bạc, số máy: HC12E5347411, số khung: HC1210DY347325 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông). Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Bùi Công L1 nên ghi nhận.
- - 01 (một) giấy phép lái xe số: [...], hạng “C” mang tên Bạch Văn Đ3 (đã qua sử dụng); 01 (một) căn cước công dân số [...], mang tên Bạch Văn Đ3 (đã qua sử dụng). Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Bạch Văn Đ3 nên ghi nhận.
[9] Đối với ông Bạch Văn Đ3 có giấy phép lái xe đúng quy định, điều khiển xe ô tô biển số 70H-008.88 đi đúng phần đường, làn đường, va chạm với anh Bùi Minh N là sự kiện bất ngờ. Quá trình điều tra cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với ông Bạch Văn Đ3 là có căn cứ.
[10] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5% án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền mỗi bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại theo quy định tại Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Hoài P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Hoài P 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đặng Thành D (Đ1) phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Đặng Thành D (Đầy) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Đặng Thành D (Đầy) cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo D.
2. Về bồi thường thiệt hại: áp dụng Điều 584, 585, 591, 600 Bộ luật Dân sự.
- - Ghi nhận ông Bạch Văn Đ3 đã hỗ trợ cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.
- - Bị cáo Lê Hoài P phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
- - Bị cáo Đặng Thành D (Đầy) phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Trả lại cho bị cáo Đặng Thành D: 01 (một) xe mô tô (xe ba gác) biển số 61L8-2395, nhãn hiệu: LONCIA, loại: mô tô ba bánh, màu sơn: Xanh, dung tích xi lanh: 200 cm³ có số máy LX163FMLUC046743, số khung: bị đục xoá không xác định được số nguyên thuỷ (bị hư hỏng do tại nạn giao thông).
- - Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Trần Hữu D1: 01 (một) xe ô tô tải biển số 70H-008.88, nhãn hiệu: THACO, màu sơn: trắng, số máy: PHASER230TIHC502852BA05, số khung: RNHC2400BFC045814 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 001775, biển số xe: 70H-008.88 (đã qua sử dụng); 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số: EB0143084, có hiệu lực đến hết ngày 26/4/2024 (đã qua sử dụng) và 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số: OTOBB230009908 (đã qua sử dụng).
- - Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Bùi Công L1: 01 (một) xe mô tô biển số 70D1-259.29, nhãn hiệu: HONDA, màu sơn: Trắng – đen – bạc, số máy: HC12E5347411, số khung: HC1210DY347325 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông).
- - Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Bạch Văn Đ3: 01 (một) giấy phép lái xe số: [...], hạng “C” mang tên Bạch Văn Đ3 (đã qua sử dụng); 01 (một) căn cước công dân số [...], mang tên Bạch Văn Đ3 (đã qua sử dụng).
4. Về án phí: Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Hoài P phải chịu 5.000.000 (năm triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Đặng Thành D (Đ1) phải chịu 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Phượng |
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Hoài Phong phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ " và bị cáo Đặng Thành D phạm tội "Giao cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông đường bộ"
