|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/HS-ST
Ngày 25-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lương Thị Phượng;
Ông Luân Văn Tuân.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Chu Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 và Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 21/2024/QĐ-TA ngày 24/9/2024 đối với các bị cáo:
- Hoàng Đức H; sinh ngày 01/8/1993 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đức V (đã chết) và bà Hoàng Thị H1 (sinh năm 1958); vợ: Hoàng Thị O; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ ngày 02/6/2024, tạm giam từ ngày 05/6/2024 đến nay. Có mặt.
- Ngô Văn B; sinh ngày 03/02/1972 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Viết T và bà Lưu Thị P (đều đã chết); vợ: Hoàng Thị M; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: Tại Bản án số 29/HS-ST ngày 30/10/1996 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Bản án số 01/HS-PT ngày 17/01/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội Mua bán, tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/1997. Tiền sự: Không có; nhân thân: Đã bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ ngày 02/6/2024, tạm giam từ ngày 05/6/2024 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hoàng Thị O, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng: Chị Hoàng Thị K, sinh năm 1982. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Tô Hiến T1, sinh năm 1975. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 ngày 23/5/2024, Hoàng Đức H lên khu vực cột mốc số 1064 biên giới Việt Nam - Trung Quốc thuộc thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nhằm mục đích mua pháo nổ về bán kiếm lời. Hoàng Đức H gặp một người đàn ông tự xưng tên là A M1 khoảng 35 tuổi, người Trung Quốc (không rõ địa chỉ) đứng sau hàng rào biên giới thuộc địa phận Trung Quốc. Hoàng Đức H trao đổi với người này bằng tiếng dân tộc về việc muốn mua pháo nổ. A M1 đồng ý và nói giá loại pháo hoa nổ 100 quả/01 giàn là 150.000 đồng; loại 36 quả/01 giàn là 100.000 đồng. Hoàng Đức H đặt mua với A M1 04 giàn pháo hoa nổ loại 100 quả/giàn và 02 giàn pháo hoa nổ loại 36 quả/giàn với tổng số tiền là 800.000 đồng. Hoàng Đức H đưa 800.000 đồng cho A M1 qua hàng rào biên giới và hẹn khoảng 19 giờ ngày 24/5/2024, A M1 sẽ mang pháo hoa nổ lên khu vực này để giao cho Hoàng Đức H.
Khoảng 16 giờ 30 ngày 24/5/2024, Hoàng Đức H đến nhà Ngô Văn B thuê Ngô Văn B vận chuyển pháo nổ từ khu vực hàng rào gần cột mốc biên giới 1064 thuộc thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn về nhà Hoàng Đức H tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn với giá 500.000 đồng. Ngô Văn B đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Ngô Văn B một mình đi bộ đến khu vực hàng rào gần cột mốc biên giới 1064 thì gặp một người đàn ông người Trung Quốc (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đứng sau hàng rào biên giới. Ngô Văn B thấy người Trung Quốc ném qua hàng rào biên giới 01 bao tải màu xanh. Người đàn ông nói tiếng dân tộc với Ngô Văn B là “Mang pháo về cho thằng H". Ngô Văn B đến và vác bao tải màu xanh đi theo hướng về nhà Hoàng Đức H, khi đi đến vị trí cách cột mốc biên giới 1064 khoảng 70 mét về phía Việt Nam thì Ngô Văn B dừng lại, mở bao tải chứa pháo ra kiểm tra và thấy bên trong bao tải đựng 05 túi nilon màu đen gồm: 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 giàn pháo hoa nổ loại 36 quả giàn; 04 túi nilon màu đen bên trong mỗi túi có chứa 01 giàn pháo hoa nổ loại 100 quả giàn nên đã buộc túi lại và một mình đi bộ vác bao tải chứa pháo nổ về nhà Hoàng Đức H.
Khoảng 22 giờ ngày 24/5/2024, Ngô Văn B đến sân nhà Hoàng Đức H. Cả hai mở ra kiểm tra thấy đủ số lượng theo yêu cầu. Hoàng Đức H nhận lấy bao tải chứa pháo nổ và đưa 500.000 đồng tiền công vận chuyển pháo nổ cho Ngô Văn B. Số pháo này Hoàng Đức H cất giấu dưới gầm giường phòng ngủ.
Khoảng 09 giờ 30 ngày 02/6/2024, Hoàng Đức H lấy 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 giàn pháo hoa nổ loại 36 quả/giàn và 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 giàn pháo hoa nổ loại 100 quả/giàn cất vào cốp xe mô tô mang biển kiểm soát 12H1 – 04486, mục đích mang đến cửa khẩu T2 để tìm người mua. Còn lại 03 túi nilon màu đen bên trong mỗi túi chứa 01 khối pháo nổ Hoàng Đức H vẫn cất giấu dưới gầm giường trong phòng ngủ, 01 cái bao tải màu xanh để đựng pháo nổ Hoàng Đức H mang ra vườn đốt. Khi Hoàng Đức H điều khiển xe mô tô đi đến khu vực thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 01 xe mô tô, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 căn cước công dân, toàn bộ số pháo và vỏ bao gói nêu trên. Tổng khối lượng pháo là 18,8kg (đã trừ bì).
Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Hoàng Văn H2 thu giữ 03 túi nilon, bên trong mỗi túi chứa 01 khối hình hộp là pháo nổ.
Tại Kết luận giám định số 640/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh L kết luận: Mẫu vật gửi giám định là pháo hoa nổ, khi đốt gây ra tiếng nổ.
Toàn bộ mẫu vật gửi giám định đã sử dụng hết. Đối với số pháo còn lại, cơ quan điều tra đã tiến hành tiêu hủy theo quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Đức H, Ngô Văn B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Bị cáo Hoàng Đức H khai chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12H1 – 04486 là do vợ của bị cáo mua lại với chị Hoàng Thị K làm phương tiện đi lại của gia đình. Khi sử dụng chiếc xe này đi bán pháo nổ, vợ của bị cáo không biết. Bị cáo Ngô Văn B khai số tiền 500.000 đồng tiền công vận chuyển pháo nổ bị cáo đã chi tiêu hết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Hoàng Thị O khai: Chị là vợ của bị cáo Hoàng Đức H. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12H1 – 04486 là do chị đưa tiền cho bị cáo Hoàng Đức H để mua lại xe với chị Hoàng Thị K, chưa đăng ký sang tên chủ sở hữu. Chị xin được trả lại chiếc xe vì tiền mua xe là tiền của chị do làm ăn mà có, việc bị cáo Hoàng Văn H2 sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội chị không biết.
Người làm chứng chị Hoàng Thị K khai: Chiếc mô tô biển kiểm soát 12H1 – 04486 chị đã bán cho một người tên là H2 từ khoảng tháng 6 năm 2023, khi bán không làm giấy tờ gì. Chị xác định không có liên quan gì tới chiếc xe này nữa.
Quá trình điều tra, người chứng kiến khai được chứng kiến cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động tố tụng đúng quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Đức H về tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Ngô Văn B về tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, phát biểu quan điểm: Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo Hoàng Đức H có bố mẹ tham gia dân công hỏa tuyến bảo vệ Tổ quốc. Bị cáo Ngô Văn B đã bị kết án, chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Đức H; điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Văn B. Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử phạt bị cáo Hoàng Đức H từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù; bị cáo Ngô Văn B từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung do các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Trả lại cho chị Hoàng Thị O 01 xe mô tô biển kiểm soát 12H1 – 04486; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy; trả lại cho bị cáo Hoàng Đức H 01 căn cước công dân; truy thu bị cáo Ngô Văn B số tiền 500.000 đồng do phạm tội mà có. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Ngày 23/5/2024, bị cáo Hoàng Đức H đã lên khu vực cột mốc biên giới 1064 thuộc thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để trao đổi, giao dịch mua pháo Trung Quốc từ về Việt Nam với một người đàn ông Trung Quốc nhằm mục đích mang về bán kiếm lời. Bị cáo Hoàng Đức H đã thỏa thuận với người đàn ông này mua 06 giàn pháo hoa nổ với giá 800.000 đồng và hẹn thời gian, địa điểm giao pháo. Sau đó, Hoàng Đức H thuê Ngô Văn B vận chuyển pháo với giá 500.000 đồng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Ngô Văn B lên khu vực hàng rào gần cột mốc biên giới 1064, được người đàn ông Trung Quốc ném qua hàng rào biên giới 01 bao tải màu xanh. Sau khi kiểm tra bên trong bao tải có 06 hộp pháo, Ngô Văn B vác số pháo này mang về nhà cho bị cáo Hoàng Đức H. Tổng khối lượng pháo các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 18,8kg. Như vậy, bị cáo Hoàng Đức H đã có hành vi buôn bán 18,8kg pháo nổ qua biên giới. Bị cáo Ngô Văn B đã có hành vi vận chuyển 18,8kg pháo nổ qua biên giới.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng và vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng pháo nổ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán, vận chuyển pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên cố ý thực hiện.
[5] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Đức H phạm tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ngô Văn B phạm tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo là có căn cứ.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ngô Văn B có 01 tiền án. Tại Bản án số 29/HS-ST ngày 30/10/1996 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Bản án số 01/HS-PT ngày 17/01/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội Mua bán, tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/1997, chưa thi hành các quyết định của bản án về hình phạt bổ sung, án phí. Do vậy, bị cáo Ngô Văn B có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Đức H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Đức H có bố là ông Hoàng Đức V và mẹ là bà Hoàng Thị H1 đã có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, có công trong công cuộc chiến đấu và xây dựng Tổ quốc. Do vậy, bị cáo Hoàng Đức H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Đức H có nhân thân tốt, chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo Ngô Văn B có 01 tiền án, có nhân thân xấu.
[9] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp là nông dân và lao động tự do, không có thu nhập ổn định, bị cáo Hoàng Văn H2 đang nuôi 02 con nhỏ và 01 mẹ già. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[10] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
[11] Đối với người đàn ông Trung Quốc do không rõ lai lịch và là người nước ngoài nên Cơ quan điều tra không đủ điều kiện xác minh làm rõ nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
[12] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Xét thấy, khối lượng pháo nổ sau giám định cơ quan điều tra đã tịch thu, tiêu hủy là đúng quy định. Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12H1 – 04486 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy cần trả lại cho chị Hoàng Thị O do chị Hoàng Thị O là chủ sở hữu chiếc xe này, việc bị cáo Hoàng Văn H2 sử dụng xe vào hành vi phạm tội chị Hoàng Thị O không biết; trả lại cho bị cáo Hoàng Văn H2 01 căn cước công dân do không liên quan đến hành vi phạm tội; tịch thu bị cáo Ngô Văn B số tiền 500.000 đồng do vận chuyển pháo nổ mà có theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[13] Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[14] Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Đức H;
Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Văn B;
Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 293; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh
- Về hình phạt
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng, biển kiểm soát 12H1 - 04486, đã qua sử dụng, số khung 240BY270593; số máy JF24E0769909, vỏ xe bị trầy, xước.
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 005259 cấp ngày 24/9/2012 mang tên Hoàng Thị K.
- Án phí
- Quyền kháng cáo
Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức H phạm tội Buôn bán hàng cấm.
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn B phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
Xử phạt bị cáo Hoàng Đức H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (02/6/2024).
Xử phạt bị cáo Ngô Văn B 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (02/6/2024).
3.1. Trả lại cho chị Hoàng Thị O:
3.2. Trả lại cho bị cáo Hoàng Đức H: 01 (một) căn cước công dân số [...] cấp ngày 08/4/2021; nơi cấp: Cục C về TTXH mang tên Hoàng Đức H.
(Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/9/2024 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).
3.3. Truy thu bị cáo Ngô Văn B số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo Hoàng Đức H, Ngô Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
9
Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về vụ án hình sự sơ thẩm về tội buôn bán hàng cấm và vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 81/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Buôn bán hàng cấm và Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 23/5/2024, bị cáo Hoàng Đức H đã lên khu vực cột mốc biên giới 1064 thuộc thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để trao đổi, giao dịch mua pháo Trung Quốc từ về Việt Nam với một người đàn ông Trung Quốc nhằm mục đích mang về bán kiếm lời. Bị cáo Hoàng Đức H đã thỏa thuận với người đàn ông này mua 06 giàn pháo hoa nổ với giá 800.000 đồng và hẹn thời gian, địa điểm giao pháo. Sau đó, Hoàng Đức H thuê Ngô Văn B vận chuyển pháo với giá 500.000 đồng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Ngô Văn B lên khu vực hàng rào gần cột mốc biên giới 1064, được người đàn ông Trung Quốc ném qua hàng rào biên giới 01 bao tải màu xanh. Sau khi kiểm tra bên trong bao tải có 06 hộp pháo, Ngô Văn B vác số pháo này mang về nhà cho bị cáo Hoàng Đức H. Tổng khối lượng pháo các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 18,8kg.
