Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 81/2024/HSST

Ngày: 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn Phàn Pao; Ông Tẩn A Sếnh.

Thư ký phiên toà: Ông Chảo Hò Sơn, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Luân, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST- HS, ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST –HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Tẩn Phồng P – Sinh năm:1993; sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: bản Trị Xoang, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Tẩn A X – Sinh năm: 1975; Con bà: Tẩn Mý L – sinh năm: 1975; Bị cáo có vợ Chẻo M – Sinh năm: 1994; Bị cáo có 02, con lớn nhất, sinh năm, 2013, con nhỏ nhất, sinh năm: 2023. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 08/6/2024, Tẩn Phồng P đi bộ xuống bản Tầm Choong, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu với mục đích đi tìm mua Heroine để sử dụng. Khi P đi đến khu vực đầu bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu, P gặp Tẩn Xoang P1, trú tại bản Tầm Choong, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu, qua trao đổi về việc mua Heroine, P đã mua được của P1 01 gói Heroine, gói ngoài bằng mảnh ni lon màu hồng với giá 100.000 đồng. Mua được Heroine P cầm trên tay, đi tìm chỗ để sử dụng. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, P đi đến khu vực đầu bản S, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác Công an huyện S, tỉnh Lai Châu phát hiện bắt quả tang thu giữ của Tẩn Phồng Pao 01 gói bột, màu trắng, Tẩn Phồng P khai đây là Heroine của P, P mua để sử dụng.

Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số: 191, ngày 08/6/2024 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 01 gói chất bột, màu trăng thu giữ của Tần Phồng Pao có khối lượng là 0,16 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 772/GĐ–KTHS, ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu bột màu trắng thu giữ của T Pao gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Cáo trạng số: 60/CT- VKS, ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Tẩn Phồng P về tội “Tàng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tẩn Phồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Xử phạt bị cáo Tẩn Phồng P từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 8 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS, điêm a,c khoản 2 Điều Điều 106 BLTTTHS: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 mảnh ni lon màu hồng.

Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị áp dụng Điều 135; Điều 136 và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Tẩn Phồng P, trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38 BLHS và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Đề nghị xem xét xử phạt cho bị cáo Tẩn Phồng P, miễn không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS cho bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Tẩn Phồng P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhất trí với luận cứ bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung thêm. Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 08/6/2024, tại khu vực đầu bản S, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu, Công an huyện S phát hiện bắt quả tang Tẩn Phổng P2 đang có hành vi tàng trữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,16 gam, Tẩn Phồng P tàng trữ Heroine với mục đích để sử dụng (hít). Như vậy, khẳng định hành vi tàng trữ 0,16 gam Heroine của Tẩn Phồng P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số: 60/CT – VKS, ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ truy tố đối với Tẩn Phồng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ Heroine là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo nghiện chất ma túy, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo vừa để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo vừa để bị cáo có điều kiện cai nghiện chất ma túy và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn có hạn chế nhất định, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.

[ 4 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo là người lao động tự do, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[ 5 ] Về vật chứng: Đối với 01 mảnh ni lon màu hồng, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần phải tịch thu tiêu hủy.

[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế khó khăn, sống ở xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Các vấn đề khác trong vụ án: Theo lời khai của Tẩn Phồng Pao số H2 bị thu giữ là P mua của Tẩn Xoang P1, sinh năm: 1990; tại bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu. Nhưng Tẩn X1 Phù không thừa nhận đã bán H1 cho Tẩn Phồng P, ngoài lời khai của P không có chứng cứ nào chứng minh, do đó không có căn cứ để xử lý đối với Tẩn Xoang P1.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và ý kiến của người bào chữa là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Áp dụng Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Tẩn Phồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Tẩn Phồng P 01 (một) năm 4 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam là ngày 08/6/2024.
  2. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 mảnh ni lon màu hồng. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ngày 24/9/2024).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tẩn Phồng P.

Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Công an huyện Sìn Hồ;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án hình sự CA huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 81/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào 09 giờ 30 phút ngày 08/6/2024 Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã bắt quả tang Tẩn Phồng P đang có hành vi Tàng trữ 0,16 gam Heroine
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger