Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 81/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Điểu Kim Rương

2. Ông Thượng Quang Minh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024 đối với bị cáo:

Trần Việt D, sinh năm 1978 tại: Sóc Trăng.

Tên gọi khác: Béc khăm; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ học vấn: 10/12.

Nơi thường trú: khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Nơi tạm trú: khu phố F, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Cha: Trần Thanh Đ (đã chết), Mẹ: Lê Thị Bé H, sinh năm 1957; Bị cáo có 04 anh chị em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1984; Bị cáo có vợ là Trần Thị T, sinh năm 1984, có 01 con là Trần Đông P, sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân:

- Ngày 08/8/2002, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tuyên phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 89/HSST, ngày 30/4/2007 Trần Việt D chấp hành xong án hình phạt tù tại Trại giam A, đã đóng án phí nên được xóa án tích theo quy định.

- Ngày 23/6/2009, UBND huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước có Quyết định số 2414/QĐ-UBND, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng, bị cáo đã chấp hành xong Quyết định.

- Ngày 08/02/2018, Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số: 22/2018/HSST. Ngày 05/01/2019, Trần Việt D chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam A, đã đóng án phí nên được xóa án tích theo quy định.

Ngày 28/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam. Bị cáo bị bắt tạm giam từ 28/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại.

- Chị Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm: 1999; Nơi cư trú: Tổ B, khu phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có mặt).

- Cháu Nguyễn Thị Cẩm N, sinh ngày: 17/12/2013; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện cho bị hại N: Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm: 1984, chị Trương Thị H1, sinh năm: 1985; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (có yêu cầu vắng mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Cẩm N là Trần Thị L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Việt D là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Trong tháng 02/2024, D đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản trên địa bàn huyện H để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất (vụ trộm cắp tài sản): Khoảng 16 giờ ngày 11/02/2024, Trần Việt D điều khiển xe mô tô (kiểu dáng Wave Alpha, màu đỏ), biển số: 93B1 – 302.71 đi từ nhà trọ thuộc khu phố F, phường M, thị xã C theo hướng Quốc lộ A di chuyển đến thị xã B để ma túy sử dụng. Khi đi ngang qua cửa hàng điện thoại di động “H", thuộc tổ B, khu phố T, thị trấn T, huyện H, do chị Nguyễn Thị Bích T1, làm chủ. D dừng xe lại để mua card điện thoại di động sử dụng, D gọi “Chủ tiệm ơi” nhưng không nghe ai trả lời. D tiếp tục đi bộ vào vị trí gần tủ kính trưng bày điện thoại bên trong cửa hàng nhưng không thấy ai. Lúc này, D nhìn thấy máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, đang để trên mặt bàn sửa chữa điện thoại nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. D lén lút đi bộ vào rồi dùng tay đưa qua tấm kính chắn phía trước bàn sửa chữa điện thoại để lấy 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax cất vào túi quần bên trái. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, D điều khiển xe mô tô đi về hướng thị xã B, tỉnh Bình Phước.

Khi D đi đến khu vực gần vòng xoay thị xã B, nghe thấy tiếng phát loa mua điện thoại cũ của một người đàn ông (không rõ lai lịch) nên đã dừng lại để bán điện thoại vừa chiếm đoạt được. Lúc này, D lấy điện thoại trong túi quần ra xem nhìn thấy màn hình không thể bấm được, các ốc vít đã được tháo rời nên nghĩ đang sửa chữa rồi bán cho người đàn ông mua điện thoại với giá 500.000 đồng. Khi bán điện thoại, D không nói cho người mua biết nguồn gốc do vừa trộm cắp được mà có. Số tiền có được D đã sử dụng hết vào mục đích cá nhân.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 27 ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax (màu đen, dung lượng bộ nhớ trong 64Gb, màn hình đã bị bể nhưng vẫn có thể xem thông tin hiển thị, mã máy đuôi VN/A) tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá là 5.167.000 đồng; giá trị của 01 ốp lưng bằng nhựa dẻo, màu giả da tại thời điểm bị chiếm đoạt là 10.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 5.177.000 đồng (năm triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).

- Vụ thứ hai (vụ cướp giật tài sản): Khoảng 08h00 ngày 12/02/2024, D mặc áo thun ngắn tay màu trắng, quần dài màu xanh – đen, đeo khẩu trang y tế, đội nón bảo hiểm loại trùm nửa đầu màu đen – trắng rồi một mình điều khiển xe mô tô (kiểu dáng Wave Alpha, màu đỏ) biển số: 93B1 – 302.71 đi từ nhà trọ thuộc khu phố F, phường M, thị xã C theo hướng Quốc lộ A di chuyển đến thị xã B để tìm mua ma túy sử dụng. Khi D đi qua khu vực đối diện cổng trung tâm hành chính huyện H thì dừng lại bên xe bán nước dừa của ông Nguyễn Văn N1, để mua nước dừa uống. Tại đây, D nhìn thấy cháu Nguyễn Thị Cẩm N, sinh ngày 17/12/2013 (con gái của ông N1) đang ngồi một mình sử dụng điện thoại di động (nhãn hiệu Xiaomi Redmi Not 12, màu đen) nên đã nảy sinh ý định giật điện thoại của cháu N để bán lấy tiền mua ma túy. D điều khiển xe mô tô quay đầu xe hướng đi về thị xã C để tiến sát đến phía trước mặt cháu N đang ngồi. Sau đó, D dùng tay phải nhanh chóng giật lấy điện thoại di động cháu N đang cầm trên tay, rồi quay đầu xe mô tô chạy về hướng thị xã B. Khi bị giật điện thoại, do bất ngờ nên cháu N không kịp phản ứng gì mà la lên: “Ba ơi, ba ơi” để gọi cha là ông Nguyễn Văn N1. Ông N1 nghe thấy tiếng cháu N gọi nên quay lại nhìn thấy D điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave Alpha, màu đỏ tẩu thoát về hướng thị xã B. Ông N1 chạy bộ đuổi theo nhưng không kịp.

Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, D điều khiển xe mô tô đi đến tiệm nước mía ở khu vực vòng xoay thị xã B. Tại đây, D đã bán điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 12 giật được của cháu N cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch được số tiền 500.000 đồng. Quá trình bán điện thoại, D không nói cho người đàn ông này biết điện thoại di động do D vừa giật được mà có. Sau đó, D đã sử dụng hết số tiền trên vào mục đích cá nhân rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 28/3/2024, D một mình đi đến khu vực thị trấn T thì bị lực lượng Công an phát hiện mời về trụ sở làm việc.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12, dung lượng bộ nhớ trong 128Gb, Ram F, màu đen có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Tại Cơ quan Công an, Trần Việt D đã thừa nhận hành vi vi phạm của mình.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng xe mô tô kiểu dáng Wave Alpha, màu đỏ, biển số: 93B1 – 302.71: Quá trình điều tra xác định, xe mô tô trên là của bà Lê Thị Bé H (mẹ đẻ của bị can Trần Việt D), đứng tên chủ sở hữu. Quá trình sống chung, do D không có xe mô tô để sử dụng nên bà H đã cho D mượn xe mô tô trên làm phương tiện đi lại. Bà H không biết việc D sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trao trả xe mô tô trên cho bà Lê Thị Bé H tiếp tục quản lý, sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Bích T1 có yêu cầu bị cáo Trần Việt D bồi thường số tiền 5.177.000 đồng (tương đương giá trị của tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt); ông Nguyễn Văn N1 (đại diện hợp pháp của bị hại) có yêu cầu bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (tương đương giá trị của tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt). Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, đề nghị Tòa án buộc bị cáo Trần Việt D phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Bích T1 số tiền 5.177.000 đồng; bồi thường cho ông Nguyễn Văn N1 số tiền 2.000.000 đồng.

- Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 13 tháng 8 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã truy tố Trần Việt D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Cướp giật tài sản” theo quy định của điểm d khoản 2 Điều 171của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 .

- Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo không tranh luận.

- Đại diện bị hại Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra không có ý kiến gì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản giữ nguyên truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Việt D từ 04 (B) đến 05 (Năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Việt D từ 01 (Một) đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Trần Việt D chấp hành hình phạt chung của 02 (Hai) tội với mức hình phạt từ 05 (Năm) năm đến 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù.

Vật chứng của vụ án: Đại diện Viện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên như đề nghị xử lý vật chứng như nội dung bản cáo trạng.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết đại diện bị hại ông Nguyễn Văn N1 yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt 2.000.000 (Hai triệu) đồng; tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Bích T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 9.000.000 (Chín triệu) đồng. Bị cáo cũng thống nhất đồng ý bồi thường số tiền trên như yêu cầu của bị hại, đại diện bị hại nên đề nghị Hộng đồng xét xử ghi nhận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại N thống nhất với tội danh, mức hình phạt và nội dung đề nghị xử lý vật chứng ,trách nhiệm dân sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị và không kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ý kiến, khiếu nại gì nên hợp pháp. Bị hại N và đại diện bị hại N vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố bị hại N và đại diện đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án và tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại N có mặt tại phiên tòa cũng đảm bảo quyền lợi của bị hại N nên việc vắng mặt bị hại N và đại diện tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án mà vắng bị hại N và đại diện.

[2]. Tại phiên tòa lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa, được xác định như sau:

Vào ngày 11/02/2024, tại cửa hàng điện thoại di động “Hoàng Lực”, thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện H, Trần Việt D lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, trị giá 5.177.000 đồng của chị Nguyễn Thị Bích T1.

Đến ngày 12/02/2024, tại khu phố A, thị trấn T, huyện H, Trần Việt D đã có hành vi sử dụng xe mô tô biển số 93B1 – 302.71 để áp sát thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di dộng X 12, trị giá 2.000.000 đồng trên tay của cháu Nguyễn Thị Cẩm N, sinh ngày: 17/12/2013.

Trần Việt D là người đã thành niên và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy hành vi trên của Trần Việt D đã đủ yếu tố cấu thành các tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ lén lút chiếm đoạt tài sản và dùng thủ đoạn nguy hiểm là xe Mô tô để ép sát cháu N để cướp giật tài sản có thể xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của cháu N là hành bị pháp luật cấm nhưng chỉ vì cần tiền tiều xài cá nhân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nên phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi mình gây ra.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có tình tiết tăng nặng định khung của tội “Cướp giật tài sản” là dùng thủ đoạn nguy hiểm và phạm tội đối với người dưới 18 tuổi được quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân rất xấu: Ngày 08/8/2002, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tuyên phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 89/HSST, bị cáo đã chấp hành xong án hình phạt tù tại Trại giam A, đã đóng án phí nên được xóa án tích theo quy định. Ngày 23/6/2009, UBND huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước có Quyết định số 2414/QĐ-UBND, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng, bị can đã chấp hành xong Quyết định; Ngày 08/02/2018, Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số: 22/2018/HSST, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù tại Trại giam A, đã đóng án phí nên được xóa án tích theo quy định. Bị cáo đã bị xét xử nhiều lần về hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm cho bản thân, rèn luyện bản thân để để thành người có ích cho xã hội mà bị cáo tiếp tục phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, là đối tượng khó cải tạo nên cần thiết phải xử lý nghiêm đối với bị cáo. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng hình thức tù có thời hạn để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị hại T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Các vật chứng trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng trình tự, thủ tục nên không tiếp tục xử lý.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên tòa Chị Nguyễn Thị Bích T1 có yêu cầu bị cáo Trần Việt D bồi thường số tiền 5.177.000 đồng (tương đương giá trị của tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt), tại phiên tòa bị hại T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 9.000.000 đồng; trước khi mở phiên tòa ông Nguyễn Văn N1 (đại diện hợp pháp của bị hại) có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (tương đương giá trị của tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt). Tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý bồi thường như yêu cầu của bị hại và đại diện bị hại nên cần áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự để ghi nhận và buộc bị cáo bồi thường.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Việt D phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ pháp luật và tại phiên tòa nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố bị cáo Trần Việt D phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

  3. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
  4. Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Việt D mức án 04 (B) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Việt D mức án 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Buộc bị cáo Trần Việt D phải chấp hành hình phạt chung của hai tội với mức án là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  5. Về xử lý vật chứng vụ án:
  6. Các vật chứng trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng trình tự, thủ tục nên không tiếp tục xử lý.

  7. Về trách nhiệm dân sự:
  8. Áp dụng các Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.

    Ghi nhận sự thống nhất giữa bị cáo và bị hại, đại diện bị hại. Buộc bị cáo Trần Việt D bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Bích T1 số tiền 9.000.000 (Chín triệu) đồng; bồi thường cho cháu Nguyễn Thị Cẩm N do ông Nguyễn Văn N1 (Bố ruột) và bà Trương Thị H1 (mẹ ruột) đại diện số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  9. Về án phí sơ thẩm:
  10. Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, các điều 23 và 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Trần Việt D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 (Năm trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  11. Về quyền kháng cáo:
  12. Áp dụng Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Công an huyện Hớn Quản;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Bị cáo; Bị hại; Đại diện bị hại; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại;
  • - Lưu: TA, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản

  • Số bản án: 81/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger