|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/DS-ST
Ngày: 21-9-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Bình
- Bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
– Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vy – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 380/2023/TLST- DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-DS ngày 24/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2024/QÐST-DS ngày 14/8/2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 06/TB-TA ngày 22/8/2024 giữa các đương sự:
– Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
Địa chỉ trụ sở: Số 169 Phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Thắng – Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Minh Lộc – Phó Giám đốc phụ trách Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam – Chi nhánh Ninh Thuận.
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn Cúc, sinh năm 1966 – Phó Giám đốc (có mặt).
Địa chỉ: Số 264 Thống Nhất, phường Phủ Hà, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
– Bị đơn: Bà Đào Thị Bé, sinh năm 1950 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Tân Sơn 2, xã Thành Hải, Tp. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Huy Phương, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Tân Sơn 2, xã Thành Hải, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Bà Đào Thị Bé có quan hệ tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội - Chi nhánh tỉnh Ninh Thuận (gọi tắt là Ngân hàng) theo Hợp đồng tín dụng số 3800013464, cụ thể như sau:
- Cho vay hộ cận nghèo:
Số tiền vay ban đầu ngày 24/8/2013: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), thời hạn vay: 60 tháng, mục đích vay: Làm nghề mộc, lãi suất vay ban đầu: 7,92%/năm, kỳ hạn trả nợ: Hàng năm.
Lịch sử hoạt động trả nợ:
- + Số tiền gốc đã trả: 4.264.000 đồng
- + Số tiền lãi đã trả: 7.692.682 đồng
- Cho vay Học Sinh sinh viên: Lê Thị Lệ Chi
- Cho vay Học Sinh sinh viên: Lê Huy Phương
- Cho vay Học Sinh sinh viên: Lê Huy Lâm
Tính đến hết ngày 21/9/2024, dư nợ của bà Đào Thị Bé theo Hợp đồng tín dụng số 3800013464 gồm các khoản nợ vay như sau:
Tổng nợ các chương trình tín dụng vay vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội:
- + Gốc: 54.936.000 đồng
- + Lãi: 51.638.596 đồng
Tổng nợ 106.574.596 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng).
Trong đó cụ thể:
- - Nợ HSSV Lê Thị Lê Chi: Nợ gốc: 24.200.000 đồng, nợ lãi: 24.638.245 đồng, tổng cộng: 48.838.245 đồng (Bốn mươi tám triệu tám trăm ba mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi lăm đồng).
- - Nợ HSSV Lê Huy Lâm: Nợ gốc: 12.000.000 đồng, nợ lãi: 8.960.112 đồng, tổng cộng: 20.960.112 đồng (Hai mươi triệu chín trăm sáu mươi nghìn một trăm mười hai đồng).
- - Nợ HSSV Lê Huy Phương: Nợ gốc: 8.000.000 đồng, nợ lãi: 7.007.506 đồng, tổng cộng: 15.007.506 đồng (Mười lăm triệu không trăm lẻ bảy nghìn năm trảm lẻ sáu đồng).
- Nợ Hộ Cận Nghèo: Nợ gốc: 10.736.000 đồng, nợ lãi: 11.032.733 đồng, tổng cộng: 21.768.733 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm ba mươi ba đồng).
Đến nay, toàn bộ nợ vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên đã quá hạn. Do vậy bà Đào Thị Bé đã vi phạm Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng chính sách xã hội - Chi nhánh tỉnh Ninh Thuận về việc trả nợ vay.
Nay, Ngân hàng Chính sách xã hội khởi kiện bà Đào Thị Bé, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Đào Thị Bé phải trả ngay toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng chính sách xã hội - Chi nhánh tỉnh Ninh Thuận với tổng số tiền tính đến hết ngày 21/9/2024 là 106.574.596 đồng (Bằng chữ: Một trăm lẻ sáu triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc là 54.936.000 đồng, nợ lãi là 51.638.596 đồng.
- Buộc bà Đào Thị Bé phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số nợ gốc chưa thanh toán tính từ ngày 22/9/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Bị đơn bà Đào Thị Bé và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Huy Phương: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng bằng thủ tục niêm yết công khai cho bà Bé, ông Phương nhưng bà Bé, ông Phương không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc bà Đào Thị Bé phải trả ngay toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng chính sách xã hội - Chi nhánh tỉnh Ninh Thuận với tổng số tiền tính đến hết ngày 21/9/2024 là 106.574.596 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc là 54.936.000 đồng, nợ lãi là 51.638.596 đồng.
- Buộc bà Đào Thị Bé phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số nợ gốc chưa thanh toán tính từ ngày 22/9/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam khởi kiện yêu cầu bà Đào Thị Bé phải trả số tiền nợ đã vay theo chương trình tín dụng cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và chương trình tín dụng cho vay hộ cận nghèo. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại xã Thành Hải, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Bé và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phương nhưng bà Bé, ông Phương không đến tham gia tố tụng và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Do đó, Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn, thấy rằng : Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm Sổ vay vốn; Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Chi nhánh Ninh Thuận, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Chi nhánh Ninh Thuận đã cho bà Đào Thị Bé vay vốn theo chương trình tín dụng cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên và vay vốn từ chương trình tín dụng cho vay hộ cận nghèo theo Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ cận nghèo. Cụ thể:
- * Vay gói sinh viên: Số tiền 56.500.000 đồng; Mục đích vay: Chi phí học tập; Lãi suất vay ban đầu: 6,6%/năm; Kỳ hạn trả nợ: Hàng năm.
- * Vay gói hộ cận nghèo: Số tiền 15.000.000 đồng; Thời hạn vay: 60 tháng; Mục đích vay: Làm nghề mộc; Lãi suất vay ban đầu: 7,92%/năm; Kỳ hạn trả nợ: Hàng năm.
[2.2] Quá trình vay vốn, bà Bé đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền mỗi gói vay cụ thể như sau: Vay gói sinh viên đã thanh toán số tiền 22.646.595 đồng (trong đó: nợ gốc 12.300.000 đồng, nợ lãi 10.346.595 đồng); Vay gói hộ cận nghèo đã thanh toán số tiền 11.956.682 đồng (trong đó: nợ gốc 4.264.000 đồng, nợ lãi 7.692.682 đồng). Kể từ ngày 25/10/2015 đến nay, bà Bé không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng. Tại tiểu mục 2.2 mục 2 Quyền và nghĩa vụ của hộ vay ghi rõ “...Trả nợ gốc và lãi tiền vay theo thỏa thuận trong Sổ vay vốn; Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thỏa thuận về việc trả nợ”. Do bà Bé không tiếp tục thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng và cũng không được Ngân hàng gia hạn nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán, vi phạm thỏa thuận đã ký giữa hai bên, nên Ngân hàng đã chuyển khoản nợ vay của bà Bé sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Hợp đồng tín dụng và Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng. Tính đến ngày 21/9/2024, bà Bé còn nợ Ngân hàng số tiền 106.574.596 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 54.936.000 đồng, nợ lãi là 51.638.596 đồng.
Cụ thể từng khoản nợ như sau:
- - Nợ HSSV Lê Thị Lê Chi: Nợ gốc: 24.200.000 đồng, nợ lãi: 24.638.245 đồng, tổng cộng: 48.838.245 đồng (Bốn mươi tám triệu tám trăm ba mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi lăm đồng).
- - Nợ HSSV Lê Huy Lâm: Nợ gốc: 12.000.000 đồng, nợ lãi: 8.960.112 đồng, tổng cộng: 20.960.112 đồng (Hai mươi triệu chín trăm sáu mươi nghìn một trăm mười hai đồng).
- - Nợ HSSV Lê Huy Phương: Nợ gốc: 8.000.000 đồng, nợ lãi: 7.007.506 đồng, tổng cộng: 15.007.506 đồng (Mười lăm triệu không trăm lẻ bảy nghìn năm trảm lẻ sáu đồng).
- - Nợ Hộ Cận Nghèo: Nợ gốc: 10.736.000 đồng, nợ lãi: 11.032.733 đồng, tổng cộng: 21.768.733 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm ba mươi ba đồng).
[2.3] Như vậy, có cơ sở khẳng định bà Bé không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng, đã vi phạm Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, bà Bé là người có lỗi nên phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ hợp đồng và theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
[2.4] Đối với yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Bé còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 22/9/2024 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Xét thấy yêu cầu này phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Sổ vay vốn, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.
[2.3] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Bé, ông Phương nhưng bà Bé, ông Phương không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng xuất trình nên có cơ sở khẳng định bà Bé đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình được pháp luật quy định.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
- - Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thưởng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
- Buộc bà Đào Thị Bé phải trả cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam số tiền tính đến ngày 21/9/2024 là 106.574.596 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 54.936.000 đồng, nợ lãi là 51.638.596 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/9/2024), bà Đào Thị Bé còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Bà Đào Thị Bé phải chịu 5.328.729 (Năm triệu ba trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm hai mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/9/2024). Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 81/2024/DS-ST ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 81/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
