|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 9 - 2024
“V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Bá Lý
- Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhớ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị L
Địa chỉ: B Â, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Chị L có mặt.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp nguyên đơn: Luật sư Phạm Ngọc Q - Công ty L1 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Vũ Xuân Bình
Địa chỉ: 22 Â, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Anh B vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 02 năm 2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Lương Thị L trình bày:
Chị và anh Vũ Xuân B tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã P, tỉnh Gia Lai - Kon Tum vào ngày 15/01/1989. Trong thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, vài năm trở lại đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đã sống ly thân một thời gian dài, mỗi người sống riêng một nhà từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh B đã thật sự mất hạnh phúc, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Vũ Xuân B.
Về con chung: Chị và anh Vũ Xuân B 03 con chung là cháu Vũ Thị Hoa M, sinh ngày 4/10/1989, cháu Vũ Thị Vân A, sinh ngày 29/7/1993, cháu Vũ Lương Ngọc A1, sinh ngày 30/9/2004. Các con đã thành niên và tự lập nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết về phần nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Theo đơn khởi kiện chị có yêu cầu Toà án chia tài sản chung giữa chị và anh B, trong quá trình giải quyết vụ án chị và anh B đã thoả thuận được, chị đã có đơn rút yêu cầu chia tài sản chung nên Toà án đã đình chỉ về chia tài sản chung. Nay chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung và nợ chung.
2. Tại bản tự khai ngày 09 tháng 5 năm 2024, bị đơn là anh Vũ Xuân B trình bày:
Anh và chị L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã P, tỉnh Gia Lai - Kon Tum vào ngày 15/01/1989. Quá trình chung sống không có mâu thuẫn gì nên anh không đồng ý ly hôn, nếu ly hôn sẽ làm ảnh hưởng đến tinh thần và việc học tập của con, mong muốn vợ chồng đoàn tụ để gia đình hạnh phúc.
Về con chung: Anh và chị L có ba con chung như chị L trình bày là đúng, hiện nay các con đã thành niên và tự lập nên không yêu cầu Toà án giải quyết về phần nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị L đã thỏa thuận xong không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án đã triệu tập anh B tham gia phiên tòa nhưng anh B vắng mặt không có lý do, nên đã không có lời khai trình bày tại phiên toà.
Tại phiên toà, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có ý kiến: Chị L và anh B có mâu thuẫn trầm trọng, anh chị đã sống ly thân, mỗi người sống riêng 1 nhà từ năm đầu năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh B đã thật sự mất hạnh phúc, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cho chị L được ly hôn với anh Vũ Xuân B.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã đảm bảo, bị đơn chưa chấp hành và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị L được ly hôn với anh Vũ Xuân B; về con chung: các con đã thành niên nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: chị L không yêu cầu nên không giải quyết. Chị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của nguyên đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Lương Thị L yêu cầu ly hôn anh Vũ Xuân B, trú tại: số B đường Â, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án về “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
[2] Bị đơn anh Vũ Xuân B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh B.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị L và anh Vũ Xuân B tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã P, tỉnh Gia Lai - Kon Tum vào ngày 15/01/1989 theo đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn hôn nhân theo chị L trình bày sau khi kết hôn thì giữa chị và anh B đã bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, đợi sống hôn nhân không hạnh phúc, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng vợ chồng vẫn mâu thuẫn gay gắt, đã sống ly thân, mỗi người sống một nhà từ đầu năm 2023 cho đến nay. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú thì chị L và anh B không yêu cầu chính quyền địa phương hòa giải nên chính quyền địa phương không biết mâu thuẫn của vợ chồng anh chị. Bị đơn anh B mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến để tham gia hòa giải, phiên tòa nhưng anh B không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng với chị L. Hội đồng xét xử xét thấy chị L và anh B đã không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm lo lắng, chăm sóc cho nhau, tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh B như vậy là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về việc nuôi con: Chị L và anh B có 03 con chung là cháu Vũ Thị Hoa M, sinh ngày 4/10/1989, cháu Vũ Thị Vân A, sinh ngày 29/7/1993, cháu Vũ Lương Ngọc A1, sinh ngày 30/9/2004. Các con đã thành niên và tự lập nên chị L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng, chị L là người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền án phí dân sự nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị L.
Về hôn nhân: Chị Lương Thị L ly hôn với anh Vũ Xuân B
2. Về án phí: Chị Lương Thị L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thu |
Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về ly hôn
- Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
