|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 81/HNGĐ-ST Ngày: 11-9-2024 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Sen.
Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 02 năm 2024 “Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Trương K, sinh năm: 1994 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
- Cư trú tại: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- - Bị đơn: Chị Lâm Thị P, sinh năm: 1994 “vắng mặt”.
- Cư trú tại: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 01 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Trương K trình bày:
- Về hôn nhân: anh Trương K và chị Lâm Thị P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn vào ngày 13/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn anh K và chị P chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau về tính cách nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh K và chị P đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay, nên anh K yêu cầu được ly hôn với chị P.
- Về con chung: trong thời gian chung sống anh K và chị P có 02 người con chung tên Trương Trí L, sinh ngày 22/3/2014 và Trương Trí B, sinh ngày 05/4/2016. Hiện nay cháu L và cháu B đang sống chung với anh K, nên anh K yêu cầu được nuôi cháu L và cháu B; anh K không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống anh K và chị P không có tài sản chung và nợ chung, nên anh K không yêu cầu giải quyết.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh K vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.
* Bị đơn là chị Lâm Thị P đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, nên chị P đã biết được yêu cầu khởi kiện của anh K. Chị P không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh K.
Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu đã ban hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập chị Lâm Thị P tham gia phiên họp hai lần hợp lệ, nhưng chị P vắng mặt không có lý do và chị P cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: theo đơn khởi kiện 01 tháng 02 năm 2024 của nguyên đơn anh Trương K thì anh K kiện chị Lâm Thị P là bị đơn cư trú tại ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn anh K khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với bị đơn chị Lâm Thị P, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Anh Trương K là nguyên đơn trong vụ án, vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh K.
[1.4] Chị Lâm Thị P là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị P.
[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Trương K và chị Lâm Thị P tự nguyện kết hôn khi đã đủ tuổi kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh K và chị P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của anh K và chị P là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn thì anh K và chị P chung sống hạnh phúc, được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên anh K và chị P sống không còn hạnh phúc. Khi phát sinh mâu thuẫn thì anh K và chị P không cùng nhau khắc phục, tìm biện pháp giải quyết, động viên, an ủi nhau và đã sống ly thân từ đến đầu năm 2021. Từ khi sống ly thân cho đến nay anh K và chị P không gặp nhau để bàn bạc về việc hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Anh K yêu cầu được ly hôn; chị P không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh K.
Xét thấy: hiện nay hôn nhân của anh K và chị P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh K yêu cầu được ly hôn với chị P là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho anh K được ly hôn với chị P.
[3] Về con chung: trong thời gian chung sống anh Trương K và chị Lâm Thị P có 02 người con chung tên Trương Trí L, sinh ngày 22/3/2014 và Trương Trí B, sinh ngày 05/4/2016. Từ khi anh K và chị P sống ly thân cho đến nay anh K trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và cháu B. Anh K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L và cháu B; anh K không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con. Chị P không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh K.
Xét thấy: từ khi anh K và chị P sống ly thân cho đến nay anh K là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và cháu B. Hiện nay cháu L và cháu B đang có cuộc sống ổn định cùng với anh K, nguyện vọng của cháu L và cháu B cũng yêu cầu được sống chung với anh K, nên việc anh K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L và cháu B là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu L và cháu B và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh K, xử giao cháu L và cháu B cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu L và cháu Bảo thành N. Do anh K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên chị P không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chị P, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: trong thời gian chung sống anh K và chị P không có tài sản chung. Anh K và chị P không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: trong thời gian chung sống anh K và chị P không có nợ chung. Anh K và chị P không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc anh K phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng anh K được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003093 ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, như vậy anh K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; chị P không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo bản án: áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Khép .
- Về hôn nhân: xử cho anh Trương K được ly hôn với chị Lâm Thị P.
- Về con chung: giao 02 cháu Trương Trí L, sinh ngày 22/3/2014 và Trương Trí B, sinh ngày 05/4/2016 cho anh Trương K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu L và cháu Bảo thành N. Chị P không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho chị P, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: anh Trương K và chị Lâm Thị P không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: anh Trương K và chị Lâm Thị P không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: anh Trương K phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng anh K được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003093 ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, như vậy anh K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; chị Lâm Thị P không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn anh Trương K và bị đơn chị Lâm Thị P có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Liên Lâm Anh Thảo |
Bản án số 81/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 81/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Trương K yêu cầu ly hôn với chị Lâm Thị P
